Ung thư - Đâu là thủ phạm? Đâu là cứu tinh?

ung-thu-dau-la-thu-pham-dau-la-cuu-tinh

Y học chính thống (tây y) hơn một thế kỷ nay vẫn bảo lưu quan điểm xếp ung thư vào nhóm bệnh do gene (genetic disease) và đỉnh điểm của cuộc chiến chống lại căn bệnh quái ác này do Tổng thống Nixon phát động vào năm 1971 tại Mỹ đã kéo dài đến tận đời Tổng thống Obama với nhiều tỷ đô-la tiêu tốn cho các dự án nghiên cứu. 

Vậy mà cho đến nay, y học chính thống vẫn chỉ dừng lại ở 3 phương pháp điều trị (Phẫu thuật - Xạ trị - Hoá trị), với tỷ lệ sống sót dưới 2,5% - rất nhỏ nhoi so với tỷ lệ bệnh nhân tử vong vẫn không ngừng tăng lên: năm 2015 đã có 8,8 triệu người chết vì ung thư trên toàn thế giới, theo thống kê của Tổ chức y tế thế giới. 

Theo số liệu từ Hiệp hội ung thư Mỹ: 43,3% nam giới và 37,8% nữ giới có nguy cơ bị chuẩn đoán mắc ung thư vào một thời điểm nào đó trong đời.


Trong khi Phẫu thuật được coi là “cơ hội tốt nhất để loại bỏ khối u ung thư phát hiện sớm và ung thư đơn giản” thì Xạ trị và Hoá trị ngày càng thể hiện rõ là phương pháp điều trị gây tổn hại quá mức cho hệ miễn dịch của bệnh nhân và trở thành nguyên nhân gián tiếp gây nên tử vong khi cơ thể bị tàn phá bởi phơi nhiễm bức xạ và hoá chất. 

* Tiến sĩ Lai Chiu Nan (Đài Loan), người đã làm việc 10 năm tại Trung tâm Ung thư thuộc Đại học Texas - một trong ba cơ sở điều trị ung thư lớn nhất tại Mỹ: Ung thư tự nó không đáng sợ, mà điều trị bằng hoá trị mới là đáng sợ. 

Vị phó giám đốc của chúng tôi là người chịu trách nhiệm về các nghiên cứu ung thư, đã từng nói với chúng tôi rằng “Hoá trị là đường cùng”. 

Ban đầu nó có vẻ hiệu quả, tuy nhiên sau đó, các tế bào ung thư phát triển sức đề kháng và dẫn đến phải sử dụng thuốc hoá trị ngày một nhiều hơn, mạnh hơn và cuối cùng là giết chết bệnh nhân. 

Các loại thuốc dùng trong hoá trị liệu không chỉ có độc tính cao, nó cũng chính là những chất gây ung thư. 

Một số bệnh nhân ung thư lúc đầu có thể được điều trị thành công bằng hoá trị liệu, nhưng các thuốc được sử dụng có thể dẫn đến một bệnh ung thư 5 năm sau đó.



* Giáo sư Yukie Niwa (Nhật Bản)- chuyên gia miễn dịch học nổi tiếng thế giới, giám đốc viện nghiên cứu miễn dịch Niwa với các công trình nghiên cứu về gốc tự do trong cơ thể. 

Ông cũng là tác giả công trình nghiên cứu về SOD- một loại enzyme có tác dụng vô hiệu hoá gốc tự do, bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tật, trong đó có ung thư: Sự phơi nhiễm bức xạ trong quá trình điều trị bằng xạ trị gây tổn hại nghiêm trọng cho ADN trong nhân tế bào chính là mầm mống của một căn bệnh ung thư mới trong tương lai. 

Sự hình thành ung thư mới trong khi đang được xạ trị cho bệnh ung thư hiện tại là điều thực sự đáng sợ. Điều tương tự cũng xảy ra với các thuốc chống ung thư, giống như tia X, chúng cũng tiêu diệt các tế bào khoẻ mạnh bình thường, hay nói cách khác đó chính là sự tận diệt.




* Tiến sĩ Chris Teo (Malaysia)- nhà nghiên cứu và giảng dạy sinh học tại Đại học USM Malaysia, người đã áp dụng thành công phương pháp chữa ung thư bằng thảo dược cho rất nhiều bệnh nhân ung thư, ông cũng là tác giả của nhiều cuốn sách về ung thư rất nổi tiếng, như Cancer what you need to know, Breast cancer perspectives of medical sciences and holistic healing: 

Bạn có bao giờ tự hỏi tại sao rất nhiều người giàu có và nổi tiếng vẫn bị chết vì ung thư? Có phải vì họ không đến những bệnh viện tốt nhất? Có phải vì họ không biết đến các loại thuốc tốt nhất? Có phải vì họ đã không gặp được các bác sĩ chữa ung thư nổi tiếng nhất? 

Tôi nghĩ câu trả lời hiển nhiên và đơn giản là: Cái gọi là phương pháp điều trị ung thư tiên tiến nhất đã không hiệu quả. Đây không phải là bằng chứng của sự thất bại ư? Hay là chúng ta đổ tại rằng chỉ đơn giản là họ không may mắn và chết do định mệnh?


* Giáo sư Ernts H.Krokowski- chuyên gia X-quang, giám đốc Trung tâm X-quang bệnh viện Kassel, Đức: Phẫu thuật đôi khi gây xáo trộn một khối u - một cách khôn khéo của tự nhiên “đóng gói và cô lập” các chất độc, gây ra hậu quả là một lượng lớn các tế bào ung thư đi vào máu. 

Còn các phương pháp khác, đặc biệt là hoá trị liệu lại làm suy yếu hệ thống miễn dịch. Sự kết hợp này chính là một công thức tạo ra thảm hoạ. 


Tại Mỹ, một nhà nghiên cứu tiên phong chống lại quan điểm “Ung thư là bệnh do di truyền - genetic disease” của y học chính thống là giáo sư Thomas Seyfriend tại Boston College. 

Ông cho rằng ung thư là một bệnh rối loạn biến dưỡng (metabolic disease) chủ yếu là kết quả của quá trình trao đổi chất bị suy nhược, dẫn đến sự rối loạn chức năng của các ty thể bên trong tế bào. 

Nói cách khác, đột biến gene chỉ là kết quả của quá trình trao đổi chất bị lỗi. Một khi ty thể vẫn khoẻ mạnh và còn chức năng thì nguy cơ ung thư là rất ít. 

Ông cũng chứng minh quan điểm này bằng thí nghiệm phân tách và cấy ghép ty thể khoẻ mạnh vào tế bào ung thư và kết quả là tế bào ung thư trở lại trạng thái bình thường. 

Ông cũng là người tiên phong trong việc áp dụng chế độ ăn Ketosis cho bệnh nhân ung thư, liệu pháp bắt nguồn từ công trình của tiến sĩ Otto Warburg- nhà sinh hoá xuất sắc nhất thế kỷ 20, chủ nhân giải Nobel hoá sinh 1931.


Một tên tuổi lớn trong ngành y học dinh dưỡng Mỹ là giáo sư T.Colin Campbell, người chủ trì công trình nghiên cứu nổi tiếng kéo dài 20 năm giữa đội ngũ chuyên gia từ Đại học Cornell, đại học Oxford và Viện y tế dự phòng Trung Quốc, đã cho ra đời cuốn sách The China Study, trong đó nêu rõ nguyên nhân của ung thư và nhiều căn bệnh nan y khác như tim mạch tiểu đường, mất trí nhớ,… đều là bệnh do rối loạn biến dưỡng (metabolic disease), gây ra bởi chế độ ăn quá nhiều đạm động vật (đặc biệt là casein trong sữa bò) và đưa ra phương pháp hiệu quả chữa trị tận gốc các căn bệnh nói trên là chế độ ăn thực vật toàn phần.


Đồng quan điểm với giáo sư Campbell, bác sĩ tiến sĩ Hiromi Shinya (Nhật Bản)- chuyên gia hàng đầu thế giới về nội soi ruột, tác giả phương pháp mổ nội soi đại tràng, sau nhiều năm tiến hành nội soi đường ruột và hướng dẫn các bệnh nhân phương pháp ăn uống trị bệnh tận gốc, cũng khẳng định: Chế độ ăn với tỷ lệ chất đạm (sạch) vừa phải, nhiều rau củ quả và ngũ cốc toàn phần là phương pháp hữu hiệu nhất chữa trị ung thư và nhiều căn bệnh nguy hiểm mà y học chính thống hiện vẫn khó khăn trong việc chữa khỏi. 

Ông tuyên bố rằng chế độ dinh dưỡng này có kết quả lâm sàng về tỷ lệ tái phát ung thư 0%. Cuốn sách The Enzyme Factor của ông hiện được dịch ra nhiều thứ tiếng với trên 2 triệu bản in.


Bên lề của y học chính thống, các hình thức điều trị bệnh khác bắt nguồn từ quan điểm nhìn nhận nguyên nhân căn bệnh xuất phát từ sự mất cân bằng bên trong cơ thể và chỉ có thể chữa lành được bằng sức mạnh của tự nhiên và trị liệu toàn diện.

* Anthroposophy: Liệu pháp y học Tâm linh và dinh dưỡng do tiến sĩ Rudolf Steiner chủ xướng tại châu Âu từ đầu thế kỷ 20, phổ biến ở Đức, Hà Lan, Thuỵ Sĩ,…

* Gerson Therapy: Do tiến sĩ bác sĩ Max Gerson (1881-1959) áp dụng cho các bệnh nhân ung thư và nhiều bệnh tự miễn, được biết đến như là phương pháp có tỷ lệ cứu sống cao nhất các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối (35-45%). 

Hiện có nhiều bệnh viện, trung tâm tiếp tục áp dụng liệu pháp Gerson trong chữa trị ung thư ở Úc, Singapore, Malaysia, Hungary, Nhật Bản, Mexico,…

* Microbiotic: Thực dưỡng Ohsawa

* Ayurveda: Y học cổ truyền Ấn độ

* TCM: Y học cổ truyền Trung Quốc

* Homeopathy: Vi lượng đồng căn

Ung thư và những liệu pháp thay thế (Phần 1)
Ung thư và những liệu pháp thay thế (Phần 2)
Ung thư và những liệu pháp thay thế (Phần 3)
Ung thư và những liệu pháp thay thế (Phần 4)

---

Tham khảo: 

Số liệu về ung thư trên toàn thế giới: http://www.who.int/cancer/country-profiles/en/

Số liệu về ung thư ở Việt Nam: http://www.who.int/cancer/country-profiles/vnm_en.pdf?ua=1

Báo cáo giáo sư Thomas Seyfriend: https://www.youtube.com/watch?v=SEE-oU8_NSU

Tài liệu hướng dẫn chế độ dinh dưỡng Shinya: http://www.enzymefactor.com/?page_id=592