Thuyết thấu cảm của tôi

thuyet-thau-cam-cua-toi

“Chúng ta yêu thích một vật bởi vì chúng ta chiếu vào nó cái mà chúng ta yêu thích ở ngay trong bản thân chúng ta.” (Robert Vícher).

1. Tôi không thích những phim mệnh lệnh găm đầy các nhân vật chức năng, tôi thích những phim bản mệnh, nhân vật “tầm thường” quyến rũ mình chính ở những sinh hoạt thường nhật và những khe hở nguy báo đổ vỡ, nhân vật đi từ chỗ không kiểm soát đến tự phán. Tôi thấy mình ưu phần hơn tất thảy nhân vật khác, được chui theo nhân vật vào một xó xỉnh, chứng kiến những khoảnh khắc riêng tư làm cho nhớ lâu và cá biệt hơn mọi căn cước. 

Khi người yêu nói với tôi về nơi em sinh ra, bố mẹ của em, nơi giường em nằm nhìn ra cái cửa sổ có bầu trời luôn hào phóng cho nhiều tín hiệu biết bữa nay nó buồn hay vui thì tôi không nguội quên. Qua nơi ấy, tôi réo thầm “cảm ơn thành phố nuôi em lớn.” Đó không phải là tình yêu sứ mệnh và đầy ký ức của “nơi tôi sinh ra và bố mẹ tôi ở đó”. Đó là tình yêu trú ngụ trong ký ức của người khác như tôi yêu thành phố, thị trấn của những nhân vật “tầm thường” trong phim của Hầu Hiếu Hiền, Dương Đức Xương, Gỉa Chương Kha hay Apichatpong Weerasethakul vậy. Chỉ có điều khác biệt, bộ phim kết thúc, tôi giã biệt nhân vật và thành phố trong phim còn khi tôi giã biệt người đã từng nói với tôi về cái kí ức gieo neo kia, tôi tự cấp báo hành trình đi truy lĩnh dấu vết của thành phố có gia quyến của em, phỏng đoán trên nhiều cửa sổ nhìn ra cái bầu trời hào phóng cho tín hiệu bữa nay nó buồn hay vui.

2. Người từng yêu tôi, yêu hoa lê, bức Hoa lê (1890) của Vangoh. Và một bức khác, bức Bố cục số 8 (1950) của Pollock. Chỉ hai bức tranh ấy, hội họa mới chinh phục được người. Một thuộc về hậu ấn tượng cuối thế kỉ 19, một nằm ở trừu tượng biểu hiện giữa thế kỉ 20. Một bức mượn bút pháp của tranh khắc gỗ Nhật Bản gợi ra sự hào phóng của thiên nhiên trong chính độ tương phản chắc chắn và mỏng mảnh, sự bừng nở của mùa mới đính trên sự lưu cữu của những mùa cũ làm sức sống tỏa ra khắp phông nền ngọc bích mà mỗi ánh nhìn của người xem tranh như con chim nhỏ loay hoay không tìm được chỗ đậu bởi không nỡ chen phá bố cục. Bức kia với kĩ thuật dripping sơn, vừa gần với âm nhạc của Beethoven ở cách nó chỉ ra nhịp điệu vận hành vũ trụ này, vừa gần với sự chiếm chỗ rồi tự lẫn vào nhau của màu sắc trên vỏ trái cây dư chín. 

Người từng yêu tôi sẽ không lâu nữa đâu trở thành người tôi từng yêu, tôi có thể quên người, sự trù phú của gương mặt, giọng nói, điệu bộ, hành xử nhưng hai bức tranh kia, di sản nhân loại đã bị riêng tư hóa bởi chúng tôi, bằng lịch sử nói cho nhau nghe của riêng chúng tôi...chúng sẽ được ở lại, thay cho mọi xa vắng.

3. Buổi chiều hôm ấy, chỗ người từng yêu tôi ngồi đẹp như một tuyệt tác. Tôi ganh ty với chiếc ghế bành được chiếm lĩnh bởi cơ thể em . Để vượt thoát sự ngẩn người sắp quá độ sang thôi miên, tôi kể cho em nghe Chekov, em hỏi sao anh kể chuyện này, cái truyện ngắn Đêm noel ấy. Tôi không biết trả lời tại sao truyện ngắn về người vợ đứng bên bờ biển đợi chồng –đừng-trở -về trong trận bão tuyết lại bật ra trong đầu tôi. Có phải tôi muốn em cảm động khi nghe tôi giả giọng người thiếu phụ van vỉ tưởng đến đứt cả mạch máu cổ khi chồng cô an toàn trở về  nhận ra sự thật của sự thất vọng của vợ để rồi đã quăng mình ra biển cho cô được như nguyện: “Quay lại đi anh!!" 

Có bữa trên lớp cung cấp dẫn chứng cho luận điểm sẽ có một vài tích tắc sống trở thành linh thiêng, ta chớp lấy sự ứng nghiệm để phù phép hoặc hóa giải, tôi kể lại truyện này cho sinh viên nghe, tôi nhắc lại đoạn cuối của truyện, và lại giả giọng van vỉ kia. Lúc đó, chính tôi là người chờ đợi những kỉ niệm đừng trở lại. Tôi rùng mình bằng chân tóc, bằng hấp háy mắt, bằng đỏ gay vành tai, bằng phập phồng ngực, bằng run rẩy cẳng chân, bằng vô tri hạ bộ. Cũng như Tếng Pháp đã từng chạy quanh vành tai tôi, đậu trên đầu ngón tay đang véo bánh mì, van nài sống trên đám hoa mi mi hấp hối khi em đọc cho tôi nghe Au cabaret vert: cinq heures du soir của Rimbaud, để từ đó tôi thấy nhạt vị với mọi câu tiếng Pháp nếu không phải đi ra từ vòm họng em như vòm trần tòa thánh.