“Thương vay khóc mướn”?, mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển

thuong-vay-khoc-muon-mau-thuan-giua-bao-ton-va-phat-trien

Ảnh đồ án kiến trúc, cá nhân mình thực hiện cho trung tầm Hồi giáo dưới sự cộng tác với Văn phòng Tổng thống Afghanistan và UNESCO từ năm 2015. Mình thì không phải người theo đạo Islam mà chỉ thuần túy theo đạo ‘’thương vay khóc mướn’’ vậy thôi. Nói thẳng ra, người mà chưa biết ''thương vay khóc mướn'', đó chưa phải là Người. - Nguồn: lequang-architect

Nhà thờ Lớn Hà Nội, Nhà thờ chính tòa Bùi Chu, Nhà thờ Trà Cổ, Nhà thờ Gỗ Kontum… phần lớn các nhà thờ cổ 100-200 tuổi ở Việt Nàm đều… không được coi là di sản. Về phương diện hành chính là như vậy. 

Các công trình Nhà thờ, tôn giáo, mặc dù được hiểu là công trình công cộng nhưng thực chất chúng luôn thuộc về quyền quản lý của Giáo xứ, Giáo phận, Giáo hội. 

Nhân việc nhà thờ chính tòa Bùi Chu đang được dư luận quan tâm, mình có trao đổi với các anh chị em nhà báo mảng này và thấy có rất nhiều vấn đề nằm ngoài chuyên môn của KTS đáng chú ý. Xin chia sẻ lại một bài trên Tia Sáng được viết từ cách đây hai năm. 

—-

Theo bài viết nghiên cứu từ tạp chí Tia Sáng, gần như tất cả các nhà thờ cổ ở VN đều không nằm trong diện di sản,  điều này chủ yếu đến từ tâm lý e ngại những ràng buộc về thủ tục pháp lý từ phía Nhà thờ. Có thể nói là các giáo xứ ở ta phát triển trong điều kiện còn nhiều khó khắn. 

Từ năm 1975 đến nay, giáo phận thì phát triển, bà con theo đạo cũng tăng lên về số lượng mà quỹ đất để xây dựng nhà thờ mới là gần như không có. Xin đất mới khó hơn lên giời trong bối cảnh đất Công giáo người ta đang đi đòi về cả mấy chục năm nay vẫn treo ở đấy chờ giải quyết. Chính vì thế mà các nhà thờ cũ là nơi chốn duy nhất cho bà con Công giáo thực hành tôn giáo và cần phải nói là các công trình này luôn nằm trong tình trạng quá tải. 

Về lý thuyết, Bảo tồn phải gắn liền với Phát triển. Nhìn vào tất cả các Nhà thờ Công giáo (không riêng gì Nhà thờ Bùi Chu) thì ta thấy đều bộc lộ mâu thuẫn giữa hai vấn đề kể trên, Bảo tồn - Phát triển. 

Nói thẳng ra thì bà con công giáo, họ rất ngại ‘’dây’’ vào các thủ tục nếu như các nhà thờ nằm trong diện di sản. Khi đó quyền tự quyết của họ cũng giảm đi nhiều và có một tâm lý bao trùm đó là không muốn dính líu đến các cơ quan chính quyền cồng kềnh, làm việc kém hiệu quả. Những ai từng làm việc trong các dự án bảo tồn chắc  nắm được vấn đề này, nhiều thủ tục cứng nhắc và còn phải có kinh tế mạnh nữa mới mong được việc. Các cha xứ họ đều có hiểu biết về văn hóa, lịch sử, kiến trúc, cái đó ta có thể tin tưởng. Nhưng nếu các nhà thờ đứng vào hàng ngũ di sản thì họ bị buộc vào những đòi hỏi khắt khe theo Quy chế Bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích. Trong khi đó các yêu cầu bức thiết về an toàn, về khả năng vận hành đáp ứng nhu cầu thực hành tôn giáo của bà con giáo dân thì nó hiện hữu hàng ngày hàng giờ. Chính vì thế các giáo xứ thường chọn giải pháp ‘’đứng bên lề’’ di sản vì khi đó họ chỉ cần tuân thủ các vấn đề về kĩ thuật và an toàn công trình mà thôi.

Điều này chỉ xảy ra ở Việt Nam, bởi lẽ Nhà thờ có ít tiếng nói trong xã hội, các hoạt động đôi lúc còn bị kìm hãm. Nhà thờ trên thế giới thì họ cởi mở hơn bởi vì vị thế xã hội của họ là rõ ràng, nhiều vấn đề Y tế, Giáo dục, Pháp luật còn được chi phối từ phía Nhà thờ. Các giáo xứ ở ta về cơ bản là không dư giả gì. Chi phí cải tạo, duy tu thì đắt đỏ nên thật ra họ không có tiền để làm. Giữa nhu cầu bức bách của cuộc sống và trùng tu thì hẳn nhiên là người ta phải chọn giải pháp khả thi hơn, đó là xây nhà thờ mới để phục vụ mưu cầu thực hành tôn giáo. Công trình mới chắc chắn không thể đẹp được như Nhà thờ cũ nhưng chí ít là nó an toàn và đáp ứng được yêu cầu sử dụng cơ bản. 

Các nhà thờ cũ thì quý lắm, chưa cần bàn về giá trị Kiến trúc, chỉ cần giá trị Lịch sử thôi đã là duy nhất và cần phải lưu giữ cho các thế  hệ sau. Tuy vậy, các công trình đó không phải (không chỉ) là địa điểm quý giá để học tập, thăm quan  du lịch phục vụ bà con bên lương (thẳng thắn mà nói như vậy). Đó là những công trình thuộc về Giáo hội, thuộc về bà con công giáo. Nếu muốn gìn giữ các công trình này, xem ra chúng ta cần phải vận động để chính quyền có những chính sách cởi mở hơn cho giáo xứ. Có ý kiến là xin cấp cho giáo xứ một mảnh đất khác để xây nhà thờ mới xem ra là hợp lý trong bối cảnh này. Như vậy nó mới rốt ráo, vừa giữ được công trình cũ để mưu sự trùng tu, bảo tồn, vừa có chỗ cho bà con giáo dân xây dựng công trình mới theo điều kiện kinh tế của họ. 

Thêm nữa, cần phải khẳng định rằng việc phản đối phá hủy các nhà thờ, công trình cổ thường đến từ cái thiên tính tốt đẹp của bà con bên lương (bao gồm nhiều KTS). Có những ý kiến phản bác lại rằng đó chỉ là việc làm ''đạo đức giả'', ‘’thương vay khóc mướn’’? Những ai có suy nghĩ cực đoan như thế nên cảm thấy hổ thẹn. Xã hội này làm sao có thể tốt đẹp lên nếu thiếu đi những người ‘’thương vay khóc mướn’’ đó. Vì sao? Đó là vị họ đã nỗ lực vượt ra ngoài những lợi ích của cá nhân để hướng tới trách nhiệm với cộng đồng. Con người ta tin yêu vào Đức chúa Giê-su không phải cũng vì cái lẽ ‘’thương vay khóc mướn’’ của Ngài đó sao?  

Thành thực mà nói, di sản không được quy định bởi dăm ba tờ giấy chứng nhận. Di sản còn là kí ức, kỉ niệm trong lòng con người. Bà con bên lương có thể rất nhiệt tình bảo vệ các công trình mà họ tin tưởng nhưng ta cũng cần nhớ rằng xét về quyền sử dụng, các công trình đó hoàn toàn thuộc về giáo xứ. Chúng ta giúp công trình một phần thì nên cân nhắc giúp đỡ cộng đồng giáo dân đến hai, ba phần. Cùng ngồi lại với nhau để tìm ra giải pháp, làm sao cho vẹn cả đôi đường như vậy có lẽ là hợp lý hơn. 

Còn những người cho rằng bà con bên lương là những kẻ ''thương vay khóc mướn'' hay ''đạo đức giả''?, Chính những người đang giữ quan điểm cực đoan đó nên tự vấn bản thân mình trước đức tin cao cả, tốt đẹp mà họ đang theo đuổi và tu dưỡng.