Hà Nội đâu chỉ có 5 cửa ô, mà là... 21 cửa ô

tai-sao-ha-noi-21-cua-o-thanh-ha-noi-5-cua-o

Ô Quan Chưởng hôm nay.

Đời nhà Nguyễn, sách Bắc thành dư địa chí soạn hồi đầu thế kỷ XIX cho biết Hà Nội có tới 21 cửa ô. Nhưng đến bây giờ hầu hết mọi người chỉ nghĩ Hà Nội có 5 cửa ô. Vật đổi sao dời, từ 21 mà sao sau chỉ còn 5? Và biết đâu đó, đến một ngày, Hà Nội sẽ chẳng còn cửa ô nào nữa…

Nguyễn Đình Thi viết những lời từng làm xao xuyến hàng triệu con tim: ..."Hà Nội vui sao Những cửa đầu ô Tíu tít gánh gồng Đây ô Chợ Dừa, kia ô Cầu Dền Làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm...". Còn khi nghe bài hát của Văn Cao có câu “5 cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về”, cứ nghĩ Hà Nội chỉ có 5 cửa ô. Đó là: Ô Quan Chưởng, Ô Đống Mác, Ô Chợ Dừa, Ô Cầu Dền và Ô Cầu Giấy.

Trong các thư tịch từ thời Lê trở về trước ít nhắc đến các cửa ô. Các cửa ô không đóng một nơi nhất định mà mỗi thời đều có vị trí khác nhau, tuỳ tình hình đắp lũy bố phòng. Thời Lý - Trần thành rộng phía Tây, có cửa Ô Cầu Giấy. Thời Nguyễn, thành thu hẹp về, lập Ô Thanh Bảo bên trong (nay là khu Vạn Bảo, Vạn Phúc). Sang đời nhà Nguyễn sách Bắc thành dư địa chí soạn hồi đầu thế kỷ XIX cho biết Hà Nội có tới 21 cửa ô, nhưng rất tiếc, lại không kể tên đầy đủ.  

Đến năm 1831 trong bản đồ Tòa thành Hà Nội của các ông Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến có ghi lại vị trí và tên của 16 cửa ô (vậy là bay đi đâu mất 5 cái): Ô Yên Hoa (nay là ngã ba đê Yên Phụ - đường Thanh Niên), Ô Yên Tĩnh (nay là ngã ba đê Yên Phụ - Cửa Bắc), Ô Thạch Khối (nay là đầu dốc Hàng Than), Ô Phúc Lâm (nay là đầu phố Hàng Đậu), Ô Thanh Hà (nay là Ô Quan Chưởng), Ô Trừng Thanh (nghe nói ở vào khoảng bên phải nhà tắm công cộng Chợ Gạo cũ, không biết cái nhà tắm đó còn không), Ô Mỹ Lộc (nay là ngã ba đường Trần Quang Khải - Hàng Mắm), Ô Đông An (nay là ngã ba Trần Quang Khải - Hàng Thùng), Ô Tây Luông (nay là Nhà hát Lớn), Ô Nhân Hòa (nay là ngã ba Trần Quang Khải - Trần Hưng Đạo), Ô Thanh Lãng (nay là ô Đống Mác), Ô Yên Ninh (nay là ngã tư phố Huế - Đại Cồ Việt, tức Ô Cầu Dền), Ô Kim Hoa (ở ngã tư quốc lộ 1 - Đại Cồ Việt, tức Ô Đồng Lầm), Ô Thịnh Quang (nay là ngã tư Hàng Bột [Tôn Đức Thắng] - Khâm Thiên, tức Ô Chợ Dừa), Ô Thanh Bảo (nay là Bến xe Kim Mã), Ô Thụy Chương (nay là khoảng vườn hoa Tây Hồ ở đầu đường Hoàng Hoa Thám).

Tìm hiểu tiếp thì đến năm 1866 mất đi một cửa ô. Vì trong bản đồ tỉnh thành Hà Nội vẽ năm 1866 đời Tự Đức thì chỉ còn 15 cửa ô, mất đi cửa ô Nhân Hoà (nhường cho sự ra đời cái dốc Vạn Kiếp?). Nhiều cửa ô lại mang tên mới: Yên Hoa thành Yên Phụ, Yên Tĩnh thành Yên Định, Thạch Khối thành Nghĩa Lập, Phúc Lâm thành Tiền Trung, Tây Luông thành Trường Long, Thanh Lãng thành Lãng Yên, Yên Ninh thành Thịnh Yên, Kim Hoa thành Kim Liên, Thịnh Quang thành Thịnh Hào. Khoảng mười lăm năm tiếp theo, cũng vẫn 15 cửa ô, nhưng Yên Định đã đổi ra Yên Ninh, Đông Hà thành Thanh Hà, Trường Long thành Cựu Lâu.

Phần lớn các cửa ô đều thông ra sông Hồng: ở phía tây có 2 cửa, phía nam có 3 cửa, ra sông Hồng có 11 cửa. Đó là vì các cửa ô chính là các cửa của thành đất bao bọc quanh kinh thành. Ra vào kinh thành tất phải qua cửa ô. Ban đêm, tại các cửa ô đều có tuần phiên canh gác, kiểm soát việc ra vào. Nhưng thời đó đường giao thông nối Thăng Long với các nơi chủ yếu là đường sông cho nên dọc sông Hồng có nhiều bến, phố xá đông đúc với nhiều hiệu buôn lớn của người Việt và người nước ngoài. Vì thế người ta phải mở nhiều cửa ô để việc đi lại được dễ dàng. Hai cửa ô Thanh Hà và Trừng Thanh rất gần nhau vì thời xưa cửa sông Tô Lịch nằm giữa hai ô này.

Hơn 100 năm sau 15 cửa ô kia đã biến thành phố xá, chỉ còn sót lại một cửa! Và trong ký ức của người dân chỉ lưu lại tên tuổi của 6 cửa ô mà phần lớn được gọi bằng tên nôm: Yên Phụ, Quan Chưởng (tức Thanh Hà), Đống Mác (tức Lãng Yên), Cầu Dền (tức Thịnh Yên), Đồng Lầm (tức Kim Liên), Chợ Dừa (tức Thịnh Hào). Có một cửa ô nữa đã đi vào ca dao - Ô Hàng Đậu, tức Phúc Lâm - nhưng nay không có ai nhắc tới nữa. Tất cả các cửa ô chỉ còn cái tên chứ chả còn cái ý nghĩa xưa.

Cái cửa ô duy nhất còn sót lại là Ô Quan Chưởng (đầu phố hàng Chiếu, ngay gần chợ Đồng Xuân). Một cửa ô duy nhất còn lại cái cổng ba cửa như cổng thành, có vọng lầu, xây bằng gạch vồ nâu đỏ, có cả tấm bia đá của Tổng đốc Hoàng Diệu cho dựng năm 1882 cấm ngặt binh lính quan nha không được sách nhiễu người dân qua lại đây vào thành. Đây vốn là cửa ô xây dựng năm 1749 thời vua Lê Hiển Tông. 


Quan Chưởng là cái tên nôm na để chỉ một ông Quan Chưởng coi việc ở đây. 260 năm đã trôi qua nhưng công trình vẫn được giữ gìn như xưa, đã được xếp hạng di tích lịch sử, ngày ngày dân mình vẫn qua lại buôn bán nhộn nhịp. Cửa ô này tạo cho phố phường một nét cổ kính Tràng An hàm khí “rồng thiêng”.