Sự khác biệt giữa giáo dục Việt Nam và Nhật Bản

su-khac-biet-giua-giao-duc-viet-nam-va-nhat-ban

Lớp học ở Nhật Bản.

Đọc lại lịch sử giáo dục Nhật Bản càng thấy rõ một điểm khác biệt cơ bản trong sự phát triển giữa giáo dục Việt Nam và Nhật.

Đó là ở Nhật song hành với cải cách giáo dục là sư du nhập và phổ biến của hàng loạt lý luận giáo dục thông qua các tác phẩm được dịch và bán rộng khắp cũng như sự hoạt động đầy nhiệt huyết của những người đã từng du học ở nước ngoài về giáo dục. 

Ngay từ đầu thời cận đại, khi phong trào giáo dục lên mạnh, 8 nhà giáo dục học người Nhật đã tập hợp lại và mở “Đại hội võ lâm” tranh luận trong nhiều ngày về giáo dục cho công chúng theo dõi.

Chính vì vậy các tác phẩm giáo dục kinh điển, có ảnh hưởng của thế giới đều được dịch ở Nhật Bản rất sớm. Từ Pestatlozzi đến Herbart, rồi Dewey. Rất nhiều sách ở Việt Nam mới được dịch từ năm 2000 trở lại đây thì cách đây hơn trăm năm người Nhật đã đọc.

Lớp học ở Việt Nam. 

Ở Việt Nam, cải cách giáo dục chủ yếu diễn ra ở phương diện hành chính từ trên xuống và sự thực thi kiểu “người thợ dạy” của giáo viên ở trường học. 

Chính vì vậy mà cho dù ở đâu người ta cũng nói về “dạy học trải nghiệm”, “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” nhưng rất hiếm hoi có người biết đến J.Dewey và đọc tác phẩm của ông. Tác phẩm nổi tiếng của ông –“Dân chủ và trường học” mãi gần đây mới được dịch và xuất bản ở Việt Nam với số lượng bán ra vô cùng hạn chế.

Tại sao?

Có nhiều lý do. Tạm kể ra vài lý do gần.

- Nhà nước-bộ giáo dục không có các dự án dịch sách giới thiệu các học thuyết, lý luận giáo dục một cách có hệ thống. Các dự án, đề tài đa phần là cải cách sgk, chương trình và đổi mới phương pháp dạy học.

- Các NXB và nhà sách thì e ngại làm mảng sách này vì độc giả ít, giá cao khó bán.

- Những người say mê và có khả năng dịch các sách về giáo dục ít, tiền nhuận bút dịch thấp nên nhiều người không dịch.

- Các GS, TS ở đại học không nhiều người có khả năng tiếp cận nguyên tác và dịch. Những người say mê và làm mảng này chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với số lượng thạc sĩ, tiến sĩ, PGS, GS tăng dần đều hàng năm.

Và thế là tạo ra vòng luẩn quẩn. Người ta phê phán giáo dục hiện tại bằng chính lý luận nâng đỡ cho các yếu điểm của giáo dục hiện tại. Người ta chỉ biết hô và làm đổi mới phương pháp và tin rằng đấy là phương thuốc thần tiên cho cải cách giáo dục.

Đấy là phương thuốc đi vào bế tắc. Bế tắc ngay từ trong tư duy.

Hiện tượng giáo viên cho rằng giáo dục kém là do phương pháp dạy học kémv à chỉ đổi mới phương pháp giáo dục là xong là một hiện tượng vô cùng thú vị và buồn tê tái.

Cái khốn khổ của giáo dục nước ta bây giờ là nhiều người làm giáo dục bế tắc thật sự trong tư duy do không thể tự mình giác ngộ được chân lý hay con đường tiệm cận chân lý chứ không phải bế tắc trong con đường hiện thực hóa tư duy đó.

Đấy là một bi kịch rất khó gọi tên.

Lối thoát là gì?

Có lẽ những ai say mê giáo dục phải tự thân vận động dịch và đem bán cho đại chúng.

Nếu tôi dịch được cuốn nào đó tôi sẽ mời bất cứ ai có thể mua.

Nhưng võ công dầu tiên cần phải luyên là chai mặt. Cái này cần sự rèn luyện dần dần.