So sánh giáo dục tiểu học Việt Nam - Nhật Bản: con số biết nói

so-sanh-giao-duc-tieu-hoc-viet-nam-nhat-ban-con-so-biet-noi

Dưới đây là số liệu so sánh số giờ học theo quy định của bộ giáo dục Nhật Bản (trong chương trình quốc gia công bố năm 2017, thực hiện từ năm học 2018-2019) và Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam (trong chương trình phổ thông vừa công bố ngày 27 tháng 12 năm 2018). 

Ở Nhật Bản cấp tiểu học gồm 6 năm, ở Việt Nam là 5 năm. Số tuần thực học về cơ bản cả hai bên đều là 35 tuần. Số ngày học trong năm cũng tương đương. 

Sau đây là tổng số giờ (hay gọi là tiết cũng được)  các môn cơ bản, đáng chú ý. 

Môn Toán: Việt Nam (805), nếu tính cả lớp 6 thì số giờ học toán của học sinh là 805+140=945 (giờ)Nhật Bản (1011).. Như vậy cho dù tính cả số giờ của lớp 6 số giờ dành cho môn Toán của Việt Nam vẫn nhỏ hơn Nhật Bản. 

Môn Quốc ngữ (ở đây là tiếng Việt và tiếng Nhật): Việt Nam (1505), Nhật Bản (1216). Nếu tỉnh cả lớp 6 thì số giờ của Việt Nam là 1505+140=1645. Như vậy cho dù tính đến lớp 5 hay tính cả lớp 6, số giờ học môn quốc ngữ ở Việt Nam vẫn lớn hơn nhiều so với Nhật Bản (1645-1216=429)

Môn Nghệ thuật (ở Nhật sẽ tính gộp luôn cả âm nhạc và mĩ thuật để dễ tính cho dù chúng học riêng biệt): Việt Nam (350), tính cả lớp 6 là 350+70= 420, Nhật Bản (716). Như vậy số giờ học môn nghệ thuật ở Nhật gần gấp đôi số giờ học ở Việt Nam (tính cả lớp 6). 

Môn Thể dục: Việt Nam (350), tính cả lớp 6 là 350 + 70= 420, Nhật Bản (597). Như vậy số giờ học môn thể dục ở Việt Nam kém xa Nhật Bản cho dù tính cả số giờ của lớp 6. 

Con số nói trên tự bản thân nó nói lên nhiều điều. Tạm rút ra vài nhận xét sơ khai. 

Một là, nhận xét thường  nghe “học sinh  Việt Nam học nhiều toán hơn học sinh thế giới” sẽ sai trong trường hợp này-khi so sánh với Nhật và xét ở góc độ thời lượng thuần túy. 

Hai là , Việt Nam dành thời lượng khá lớn cho môn tiếng Việt cho dù nhiều người vẫn cho rằng trẻ em Việt Nam có thể học viết, đọc tiếng mẹ đẻ trong thời gian ngắn. Có gì gợi cho ta liên tưởng đến thành tích xóa nạn mù chữ, tỉ lệ người biết chữ cao và tỉ lệ người dân không đọc sách cũng cao như đang thấy?

Ba là, trong khi người Nhật rất coi trọng môn Thể dục và Mĩ thuật ở tiểu học và dành cho nó số giờ khá lớn thì ở Việt Nam có vẻ như nó được đưa vào “cho có” với thời lượng ít ỏi. Đấy là chưa kể đến chất lượng trong thực tế. 

Điều này nói lên tầm nhìn và quan niệm giáo dục khác nhau. Cũng là sự khác nhau trong triết lý giáo dục-gắn với hình ảnh con người mơ ước. Nó cũng gợi cho ta liên tưởng gì đến sự yếu ớt của thanh thiếu niên và tình trạng lộn xộn, bẩn thỉu, phi mĩ học thấy khắp nơi, tình trạng phá di tích, di sản văn hóa tràn lan?

Cuối cùng, không cần quá thông minh người ta cũng nhận ra giáo dục Việt Nam đặt trọng tâm lớn vào các môn giáo khoa, nghĩa là tính chất “khoa cử” của nó vẫn còn đậm nét dù đã có cải thiện.