Sách "Tình thương" và phim kinh điển: Sức nén của năng lượng tích cực

sach-tinh-thuong-va-phim-kinh-dien-suc-nen-cua-nang-luong-tich-cuc

Bộ đôi sách Tình thương và Việt Nam quốc gia của tình thương - tác giả Hà Huy Thanh.

“12 angry men” là một bộ phim kinh điển mỗi khi người ta nhắc về luật pháp, về nhân quyền, về xét xử công bằng. Vậy thì, bộ phim có liên quan gì đến “Tình thương” – bộ sách 2 cuốn, tổng cộng chỉ hơn 200 trang của tác giả Hà Huy Thanh?

Từ “12 angry men” đến “Tình thương”

Nhan đề “12 angry men” (12 người đàn ông giận dữ) đã không còn xa lạ với đa số khán giả và bạn đọc. Bộ phim kể về cuộc họp của 12 người đàn ông trong bồi thẩm đoàn, cùng đưa ra quyết định cho số phận của một cậu bé là nghi phạm trong vụ án giết cha. Tất cả bằng chứng có được trước tòa đều chống lại cậu bé, chỉ cần bồi thẩm đoàn thống nhất bỏ phiếu “có tội”, cậu bé sẽ bị đưa lên ghế điện. 

Đó là một buổi chiều nóng bức nhất trong năm, các thành viên trong bồi thẩm đoàn xuất thân từ đủ các ngành nghề, độ tuổi khác nhau, cùng thống nhất bỏ phiếu “có tội”. Chỉ có duy nhất một người đàn ông bỏ phiếu “vô tội”. Ông bỏ phiếu “vô tội” không phải vì ông biết cậu bé đó thật sự không phạm tội, mà chỉ vì ông muốn vụ án đó được xem xét công bằng, kĩ lưỡng hơn; thay vì cả bồi thẩm đoàn đồng loạt bỏ phiếu mà không suy nghĩ gì.

Hai chữ “Tình thương” có lẽ cũng không có gì mới mẻ. Ai cũng từng nhắc đến tình thương, tình thương xuất hiện trong ca dao, trong văn thơ, đi vào cả đề văn nghị luận của học sinh trung học, và tồn tại trong cả những bài nói chuyện của người nổi tiếng. Thế nhưng, phải đến năm 2017, mới có một cuốn sách đầu tiên lấy tình thương làm chủ đề chính, và nhan đề cũng chỉ vỏn vẹn hai chữ: “Tình thương” của Hà Huy Thanh.

Trong cuốn sách viết về tình thương của mình, Hà Huy Thanh cho rằng: Tình thương chia làm 3 giai đoạn: Thấu hiểu (bản thân, người khác, hoàn cảnh) – Sẻ chia – Kiến tạo giải pháp.

Như vậy, Hà Huy Thanh không định nghĩa tình thương bằng những từ ngữ hay khái niệm trừu tượng hoặc chung chung khác, mà anh đi ngay vào các dấu hiệu nhận biết tình thương. Ở đâu có đủ những dấu hiệu đó, ở đó tình thương tồn tại.

Trong câu chuyện của “12 angry men”, không một nhân vật nào nói “thương” với nghi phạm, người đầu tiên bỏ phiếu “vô tội” cũng không. Thế nhưng ở trong hành động của anh ta lại chứa một tình thương không lời. Anh ta hiểu về bản thân mình khi nói: “Tôi không biết cậu bé ấy có tội không, nhưng tôi thấy cần ngồi lại thận trọng khi quyết định về mạng sống của một ai đó.” Anh ta cũng hiểu về người khác, khi đặt câu hỏi ngược lại cho bồi thẩm viên khác: “Anh có đeo kính khi đi ngủ không?” để chứng minh bằng chứng duy nhất “có lý” lúc đó không thuyết phục. Anh ta cũng hiểu về hoàn cảnh, khi biết mình sẽ phải đối mặt với sự phản đối của 11 người còn lại, nhưng vẫn kiên trì muốn lật lại quá trình điều tra.

Người đàn ông ấy, tuy không trực tiếp, nhưng cũng có sự chia sẻ với nghi phạm: “Nhìn này, cậu bé này bị đối xử thô bạo suốt một thời gian dài. Các ông biết không: sống trong một khu ổ chuột, mẹ cậu ta chết từ khi cậu ấy chín tuổi. Cậu ta có một năm rưỡi trong trại trẻ mồ côi trong khi người cha phải ngồi tù vì tội giả mạo. Đó không phải là một khởi đầu tốt. Cậu bé ấy đã có mười sáu năm khá khủng khiếp. Tôi nghĩ có lẽ chúng ta nợ cậu bé một vài lời. Đó là tất cả.”

Chính từ sự chia sẻ ấy, nên khi nhìn ra những chi tiết thiếu logic, không giống những bồi thẩm viên khác chỉ muốn xong việc sớm để đi xem bóng chày, hay giữ mãi định kiến về những đứa trẻ cãi lời bố mẹ là hư hỏng, người đàn ông này bỏ phiếu “vô tội” để cho cậu bé đó có cơ hội được xét xử lần thứ hai. Anh ta ra sức thuyết phục 11 người còn lại, mặc cho bị mỉa mai, mắng chửi. Một lá phiếu “vô tội” không có nghĩa là cậu bé đó thực sự vô tội.

Anh ta thú nhận: “Luôn luôn khó để tránh thành kiến ​​cá nhân khỏi những điều như thế này. Và bất cứ nơi nào bạn gặp phải nó, định kiến ​​luôn che khuất sự thật. Tôi thực sự không biết sự thật là gì. Tôi không cho rằng bất cứ ai sẽ thực sự biết. Chín người trong chúng ta dường như cảm thấy rằng bị cáo vô tội, nhưng chúng ta chỉ đánh bạc với xác suất - chúng ta có thể sai. Chúng tôi có thể đang cố gắng để một người đàn ông có tội được tự do, tôi không biết. Không ai thực sự có thể. Nhưng chúng ta có một nghi ngờ hợp lý, và đó là thứ gì đó rất có giá trị trong hệ thống của mình. Không bồi thẩm đoàn nào có thể tuyên bố một người đàn ông có tội trừ khi họ chắc chắn được điều đó.”

Đó chính là cách anh ta kiến tạo giải pháp.

Từ ích kỷ đến yêu thương

Những hành động thấu hiểu, chia sẻ, tìm ra giải pháp thực chất đều là những hành động quen thuộc, nhưng phải đến khi viết “Tình thương”, mới có Hà Huy Thanh khái quát chúng lên thành một thứ tình cảm phổ quát và cần thiết. Thấu hiểu, chia sẻ, tìm giải pháp không phải là những hành động đơn lẻ, mà đi liền với nhau, nối tiếp nhau, tạo nên tình thương. Nói cách khác, thấu hiểu, chia sẻ, tìm giải pháp chính là bằng chứng của tình thương.

Nếu một người chỉ chăm chăm nhìn vào bản thân, yêu cầu người khác chia sẻ với mình, tìm ra những giải pháp phục vụ cho riêng mục đích cá nhân của mình mà không cân nhắc đến quyền lợi của người xung quanh, thì đó không phải là thương bản thân, mà là ích kỷ. Người đàn ông số 3 trong “12 angry men” chính là người như thế. Ông ta khăng khăng bản thân là đúng nhất, dùng kinh nghiệm và tổn thương cá nhân để áp đặt lên nghi phạm, chửi mắng những ai không đồng ý kiến với mình.

Nếu một người luôn lo nghĩ cho người khác mà quên đi bản thân mình, lúc nào cũng đặt yêu cầu của người khác lên hàng đầu, ưu tiên giải quyết vấn đề của người khác hơn cả bản thân, thì đó không phải là thương người khác, mà là không biết trân trọng chính mình. Bởi họ quên mất rằng vấn đề của họ, đến một lúc nào đó, sẽ ngày càng lan rộng đến mức không thể kiểm soát nổi. Mẫu người này rất dễ thấy trong các cơ quan công sở.

Nếu một người biết nhìn vào bản thân, biết nghĩ cho người khác, nhưng lại không để tâm đến hoàn cảnh, thì đôi khi hành động lại quá thiếu thực tế, các giải pháp đôi khi không có tính ứng dụng cao.

Nếu một người tìm cách hiểu bản thân, hiểu người khác, xác định và thích nghi với hoàn cảnh, biết học cách chia sẻ, ban tặng và cho đi, biết tìm giải pháp cho những vấn đề trong cuộc sống mà không hằn học, không giận dữ, thì đó chính là bằng chứng về một tình thương đang hiện hữu, và người đó đang lan tỏa năng lượng của tình thương. 

Từ ích kỷ đến yêu thương, chính là hành trình từ bên trong hướng ra bên ngoài, từ cái tôi vị kỷ đến cái tôi chữa lành, từ khát khao bản thân hoàn bảo đến khát khao hàn gắn thế giới.

(Tác giả Hà Huy Thanh)

Nguyên lý tình thương mà Hà Huy Thanh đặt ra, theo như chính anh nói, thì là một “hành thuyết”, chứ không phải “lý thuyết”. Chữ “hành” ở đây anh nói với nghĩa “thực hành”. Sau khi đọc cuốn sách xong, tôi thấy cần bổ sung thêm hai nét nghĩa: 

1) “đồng hành”: khi thực hành nguyên lý tình thương, bạn cần thực hành cả với bản thân mình, với người khác, trên cơ sở thấu hiểu hoàn cảnh, từ đó đạt đến sự chia sẻ cân bằng và kiến tạo những giải pháp phù hợp cho từng vấn đề. 

2) “hành động”: tình thương không dừng lại ở sự thấu hiểu hay chia sẻ suông, mà buộc phải thúc đẩy người ta hành động. Hành động để hoàn thiện giải pháp, hành động để biến tình thương thành hiện thực.

Trong tiếng Anh, không có một từ ngữ chính xác nào để chỉ “tình thương”. Tiếng Anh chỉ tồn tại “tình yêu” (love), lòng trắc ẩn (compassion), lòng khoan dung (mercy). Chính vì thế, “tình thương” là một khái niệm còn đang bỏ trống trong các nước nói tiếng Anh. Họ có thể đã thực hành nguyên lý tình thương, nhưng để định nghĩa nó thì vẫn còn đang bối rối. 

Nhìn ra khoảng trống đó, Hà Huy Thanh đã đưa ra một lý giải về tình thương và gợi ý về một giải pháp giải quyết các vấn đề toàn cầu thông qua tình thương. Đó vừa là thách thức, nhưng cũng thể hiện sự táo bạo của một người Việt trẻ.

Đông Tử