Rồi sẽ ngồi đâu trong Hà Nội?

Bản chưa cắt từ FB nhà văn Trương Quý:


Rồi sẽ rất chán. Rồi sẽ chẳng muốn đi đâu. Rồi sẽ...

Rồi chúng ta sẽ ngồi đâu trong Hà Nội?


Ảnh: một quán cafe trong trung tâm thương mại ở Hà Nội

Mỗi lần đi tìm một quán cà phê hay đơn giản là nơi gặp bạn bè, tôi thường bị những “nguyên tắc” làm khó mình. Tôi cần một quán có cửa sổ nhìn ra phố có cây xanh, tôi cần quán không quá đông, không quá ồn, không kiểu cách dị mọ, bàn ghế sạch sẽ và thoải mái... Đại loại là nghe có vẻ rất cầu kỳ và quá nhiều đòi hỏi ở một thành phố như Hà Nội, nơi chỉ cần hai cái ghế con con bên vỉa hè là đủ không gian cho một cuộc gặp gỡ.

Nhưng một quán như thế lại là hình ảnh đặc thù vài thập niên trước, cứ nghe các bài hát thịnh hành có nhắc đến quán xá mà xem. Từ khóa “quán vắng” chắc chắn phổ biến hơn “quán đông”, và ở quán ngồi là có chỗ ngắm “bên đường xe ngựa ngược xuôi” hay “bên quán nhỏ em buồn nghe lá trút”. Quán đông hình như làm người ta nghĩ đến quán ăn, có một sự kiện gì khác thường xảy ra ở đấy hơn là cái nhịp độ hàng ngày.


Bây giờ có vẻ những quán cà phê có những điều kiện xa xỉ trên không nhiều. Nhìn vào điều kiện thực tế của việc làm ăn ở đô thị, rõ ràng cùng một diện tích mặt bằng, bán cà phê không có lợi so với hàng ăn. Số thời gian khách ngồi uống cà phê lâu hơn so với ngồi ăn nhậu, chưa kể quán cà phê đòi hỏi trang trí nội thất phù hợp, nếu có máy pha cà phê kiểu Ý tiêu chuẩn thì còn tốn kém nữa. Thế mà tôi còn đòi hỏi một quán vắng! Có “view” nhìn ra phố hay vườn cây! Tôi thấy mình khổ sở khi tìm chỗ ngồi uống cà phê là đáng đời lắm.


Một người bạn giới thiệu tôi xem một phim của Indonesia tên là “Filosofi kopi” – nghĩa là “Triết lý cà phê”, kể về câu chuyện khởi nghiệp bằng cách mở một quán cà phê “mộc” của hai anh chàng Jakarta. Bộ phim có vẻ đã gây được sự chú ý của giới trẻ đất nước này với quan điểm cà phê mang tính gắn kết với bản địa, từ chối tiện ích công nghệ như không có wifi, người pha cà phê phải hiểu cà phê như một nhà triết học nghiên cứu tư tưởng con người… Thoạt đầu những người chủ trương quán này rất vất vả để duy trì vì rất khó phá vỡ thói quen lệ thuộc tiện nghi của thế hệ trẻ. Ngoài nội dung đó thì phim cũng không có gì đặc biệt, cho đến khi tôi có dịp tới Jakarta một năm sau. 


Thủ đô Indonesia là một thành phố khổng lồ nhưng quy hoạch không được tốt lắm. Các tòa cao ốc mọc lên xen kẽ các khu phố cũ kỹ. Bên cạnh những con đường phơi nắng chang chang tắc nghẽn xe cộ thường xuyên là những khu phố rợp bóng cây xanh. Trên đường là hàng dài xe hơi và xe ôm công nghệ Grab hay Go-Jek nhẫn nại trong cảnh tắc đường. Đất nước phát triển nóng về các ứng dụng Internet này có bạt ngàn quán cà phê trên các ứng dụng về địa điểm ăn uống. Nhưng những quán cà phê vẫn đa phần nằm trong các trung tâm thương mại, trong các khoang ngăn bằng vách kính. Các quán này lúc nào cũng đông giới trẻ, thực đơn luôn ổn định và giúp khách hàng cảm nhận được mình đang trong “xu hướng” (trend), nhưng cả trăm quán như dập một khuôn đóng hộp. 


Tôi đến thị sát quán “triết lý cà phê”. Quán nằm cách trung tâm 7 cây số, trong một khu đô thị mới. Quán không lớn nhưng khiến tôi dễ chịu vì sự thô mộc vừa phải, không quá nệ đến mức cực đoan, không trưng trổ một phong vị “chất nghệ” nghiêm trọng để tôi sợ. Quán có một vài cái ghế ở trước cửa để khách ngồi uống ngoài trời. Giống Hà Nội! Và ở trên bảng menu, có “Vietnam Drip” (drip là loại cà phê pha bằng phễu lọc). Dĩ nhiên tôi không sành cà phê đến mức nói ra ngay được sự khác biệt của hương vị mỗi nơi. Nhưng ngồi thưởng thức đồ uống chậm rãi trong không khí nhìn thấy cây, thấy phố… gợi một cảm giác bình an quen thuộc, như con lắc dao động về được điểm cân bằng.


Tôi không chắc hình thức cà phê mở ra vỉa hè hay bao quanh quảng trường liệu chỉ có ở những xứ có dấu ấn ảnh hưởng văn hóa Pháp (hay xa xôi hơn là Ý) như Việt Nam. Nhưng tôi sẽ luôn muốn trở về Hà Nội nếu như ở đó còn những quán cà phê cho tôi ngồi, ngắm cây ngắm phố và thấy người ta sống bình an. Vẫn còn đó những “nguyên tắc” mà mỗi người không thể từ bỏ. Có vẻ tôi sẽ không thể nào bớt khổ.