[Phim hay cuối tuần] Bao giờ cho đến… Mùa ổi

phim-hay-cuoi-tuan-bao-gio-cho-den-mua-oi

Bùi Bài Bình vai Hòa và Lan Hương vai Thủy đều đoạt giải diễn viên chính xuất sắc nhất tại LHP Việt Nam năm 2001.

Kết thúc buổi chiếu phim Mùa ổi của đạo diễn Đặng Nhật Minh, đèn bật sáng, có thể thấy vài khán giả người Việt không ngừng quệt nước mắt. Vì phim truyền cảm nên nhiều khán giả nước ngoài cũng nán lại trò chuyện với đạo diễn.

CLB điện ảnh Hanoi Cinematheque, khi chưa bị "bức tử" (tất nhiên), từng dành chiếu chùm 6 phim của đạo diễn Đặng Nhật Minh. Những bộ phim này được Dick Gebuys, giáo sư người Hà Lan đang viết một cuốn sách về đạo diễn của Bao giờ cho đến tháng mười, tuyển chọn và giới thiệu trực tiếp.

Riêng Mùa ổi, đối với nhiều người yêu điện ảnh, đây là bộ phim xuất sắc nhất ở giai đoạn sáng tác về sau của Đặng Nhật Minh - đạo diễn từng được Viện hàn lâm nghệ thuật điện ảnh và khoa học Hoa Kỳ vinh danh. Tác phẩm điện ảnh từng đoạt Bông sen vàng tại LHP Việt Nam năm 2001 có chất lượng, giá trị không hề kém cạnh so với Bao giờ cho đến tháng mười, Thương nhớ đồng quê – những bộ phim đầu tiên đưa Đặng Nhật Minh trở thành tên tuổi hàng đầu của điện ảnh Việt. 

Xem Mùa ổi vào lúc này, với độ lùi của 16 năm sau khi ra đời và sau nhiều chục năm của bối cảnh phim, nhiều khán giả không kìm được nước mắt vì ký ức xưa như được đánh thức và hơn thế, những xót xa khi xưa càng càng rõ ràng ở hôm nay.

Mùa ổi trước hết là bộ phim về vẻ đẹp một thời. Ở đó có những ngôi nhà đẹp, góc phố đẹp, khuôn hình đẹp, âm thanh đẹp và nhân vật chính trong phim cũng làm công việc bình dị liên quan đến cái đẹp, đó là làm mẫu vẽ cho sinh viên trường Mỹ thuật. 

Bên cạnh vẻ đẹp mộc mạc của “mái ngói xô nghiêng”, “ngõ nhỏ, phố nhỏ, nhà tôi ở đó”… là vẻ đẹp của cảm xúc, tâm hồn con người. Chỉ có điều, sự thuần khiết, thánh thiện của sự vật cũng như của con người được đặt trong sự mong manh, chất phác, dễ dàng bị những mưu toan xấu xa vui lấp, hủy hoại. Và như thế, những gì chân thật, nhân bản dần bị cưỡng đoạt, bị bóp nghẹt một cách tinh vi, đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc biến mất. 


Để thể hiện góc nhìn đó, đạo diễn Đặng Nhật Minh chọn được câu chuyện vừa mang tính hiện thực, vừa chạm đến ký ức sâu kín của nhiều người.

Đó là câu chuyện xoay quanh hai chị em Hòa và Thủy. Ở độ tuổi 40, 50 nhưng Hòa vẫn giữ tâm hồn, trí tuệ của đứa trẻ 13. Đó là độ tuổi Hòa bị ngã từ cây ổi trĩu quả trước hiên nhà, cây ổi do chính tay cha cậu bé trồng và hàng ngày cậu vẫn tưới nước, chăm sóc. 

Từ sau tai nạn ấy, Hòa có biểu hiện ngơ ngác trước cuộc sống hiện tại. Hiện rõ nhất trong tâm trí cậu là hình ảnh về những năm tháng ấu thơ, khi cả gia đình vẫn được quây quần bên nhau trong ngôi nhà về sau bị chuyển giao cho nhà nước. 

Giữ ký ức xưa nên thỉnh thoảng Hòa vẫn lén về thăm nhà cũ, nhìn ngắm cây ổi xưa. Ngôi nhà ấy sau khi thuộc về cơ quan công quyền, theo chính sách đất đai của những năm 1960, nay trở lại là tài sản tư, do một gia đình cán bộ nhà nước khác sở hữu. May cho Hòa, khi nhiều người cho rằng anh là tên ăn trộm thì vẫn có Loan, cô gái trẻ sắp tốt nghiệp đại học, chỉ sống một mình trong ngôi nhà rộng lớn tin tưởng. 

Loan mời “bác Hòa” đến sống trong căn nhà trong những ngày cuối cô còn ở lại Hà Nội, trước khi vào Sài Gòn cùng gia đình. Câu chuyện của “bác Hòa”, qua lời kể của cô giáo Thủy, là chị gái của Hòa, chạm đến lòng trắc ẩn trong Loan. Nhưng đáng tiếc thay, cha của Loan không có niềm tin vào sự thật thà, chất phác và ký ức như thế. 

Ông nhiếc móc, chất vấn Loan rằng: “Kỷ niệm là cái thứ gì?”. Thậm chí, ông còn cảnh cáo bằng cái tát thẳng vào lòng tốt đến mủi lòng của con gái.

Nhìn rộng ra, không chỉ có bố của Loan, cả những người láng giềng trong khu phố cổ thay vì giúp đỡ, trân trọng thì ra sức lợi dụng sự hiền lành, tốt bụng ở Hòa. Cùng với thương Hòa, người xem không khỏi xót xa cho Thủy, chị của anh. Việc luôn phải can ngăn, lo lắng cho anh trai bộc lộ sự chống đỡ yếu ớt của cô trước những “cạm bẫy” đời. 

Nếu Hòa tiêu biểu cho những con người mà nét trong sáng của họ luôn lấp lánh, thì Thủy là hiện thân cho hình ảnh của người đứng chênh vênh giữa hai bờ đục – trong, hay nói cách khác, là đứng ở ngã ba đường của sự thật thà và man trá. Khi cầm trên tay những trang bảo thảo cuốn sách về luật do cha dày công dịch thuật và để lại, cô phân vân, loay hoay không biết gửi chúng đến đâu…

Ngoài Hòa, Thủy, Loan, trong Mùa ổi còn có một nhân vật nữa thuộc “phe nước mắt” là Huệ, cô bé tỉnh lẻ vừa học vừa mưu sinh ở chợ Long Biên để nuôi mẹ đau ốm. Có khán giả hỏi đạo diễn, tại sao ông đưa Huệ vào câu chuyện về gia đình Hòa và Thủy? Đặng Nhật Minh nói, vì người ngụ cư là một phần không thể thiếu của Thủ đô ồn ã. Cần có gương mặt của họ trong những biến động của thành phố ấy.

Có một điểm đáng lưu ý ở bộ phim được làm dựa trên truyện ngắn Ngôi nhà xưa của chính đạo diễn, đó là ông đặt Hòa và cô bé Huệ là mẫu vẽ. Như vậy, vẫn có những người nhận ra vẻ đẹp của họ. Tuy vậy, lòng tốt, cái đẹp thuần phác ấy luôn bị rình rập bởi lòng tham, quyền lực, sự giả dối và vì thế, cũng như hương ổi, gốc ổi, chúng có nguy cơ dần nhạt phai hoặc bị chặt bỏ. 

Trong Mùa ổi, có không ít lần nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương như Hòa hay Huệ bị bắt bớ, đưa vào viện tâm thần hay phải đối mặt với việc lạm dụng từ kẻ thuê mướn mình. 

Còn một câu hỏi khác có thể nhiều người băn khoăn, đó là khi vẽ Huệ hay Hòa, có ai vẽ, có ai ngắm nhìn vẻ đẹp bên trong và vẻ đẹp tâm hồn họ?

Xem phim Mùa ổi (đạo diễn Đặng Nhật Minh) ở đây: