Nỗi buồn chiến tranh - khoảng lặng dài của Bảo Ninh (P2)

noi-buon-chien-tranh-khoang-lang-dai-cua-bao-ninh-p2

Ảnh chân dung Bảo Ninh của Nguyễn Đình Toán.

>> Nỗi buồn chiến tranh - khoảng lặng dài của Bảo Ninh 

Bảo Ninh, cũng như Kiên, nhập ngũ năm 17 tuổi sau khi rời ghế nhà trường. Ông thuộc hàng triệu thanh niên đáp lời kêu gọi của ĐCSVN đi chiến đấu chống Mỹ, thống nhất đất nước. Ninh đáp lời kêu gọi “như những người Việt Nam khác thời ấy”, ông bảo tôi, khói thuốc vờn quanh mặt. “Anh hừng hực khí thế ra trận.” Khi ông đến chỗ tuyển quân ông được chào đón bằng những bài ca yêu nước, cổ vũ tinh thần những người lính trẻ. Khi chiến tranh kết thúc, những người lính sống sót trở về Bắc trong hào quang chiến thắng. Họ được chính quyền chào đón như những anh hùng, nhưng Bảo Ninh trở về tan nát. “Ngày nào cũng có ác mộng, đến bố mẹ tôi cũng đâm sợ tôi. Tôi những muốn quên chiến tranh đi, nhưng nó không buông tha tôi,” ông nói tại cuộc gặp ở “Diễn đàn văn học Đông Nam Á” diễn ra tại Đài Loan tháng Ba năm nay.

Trong tiểu thuyết, khi Kiên nhớ lại các đồng đội đã hy sinh, anh đã bị chìm vào những sự khủng khiếp của cuộc chiến, và trong khi tháng này qua tháng khác đi qua “những vùng rừng núi sũng nước, bùn lầy như địa ngục”, các bóng ma đã hiện lên như những người chết đi lang thang, ám ảnh người sống. “Bước chân người chết hiện ra từ mỗi góc rừng, mỗi ngôi nhà, mỗi con đường rừng tạo nên một cấu trúc tự sự giống như đợt thủy triều dâng cuốn phăng mọi thứ  không thương tiếc, giống như một thứ mê cung hơn cả kiểu mê cung của Aristotle”, nhà tiểu thuyết Canada Madeleine Thien đã viết như vậy về cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh trên trang mạng của hội PEN Mỹ.

Trong NBCT Ninh đã vứt bỏ những quy ước tự sự để tạo ra một cấu trúc phi tuyến tính, dịch chuyển giữa quá khứ và hiện tại nhằm làm sụp đổ và bất động hóa thời gian. Về sau trong truyện Kiên bắt đầu viết sách và rồi nhận thấy “thường thường đà viết đã cuốn trôi đi hết mọi dự định hoặc xáo trộn lên làm mất trình tự và mạch lạc mà Kiên mong muốn.”

Nguyễn Việt Thanh đã nói kỹ về phương diện này của cuốn tiểu thuyết trong email gửi tôi. “Lối kể chuyện mạch lạc theo tuyến tính về chiến tranh và cách mạng là đặc điểm của lối kể được nhà nước cho phép ở trong phim ảnh, tiểu thuyết và đặc biệt trong các bảo tàng lịch sử. Lối kể này đổ mọi sự xấu xa cho kẻ thù bên ngoài và kẻ phản bội bên trong và vẽ ra những người lính, du kích và những nhà cách mạng là những người yêu nước cao cả, lạc quan. Cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh kể một câu truyện khác hẳn về những chàng trai yêu nước đã bị chiến tranh hủy hoại hoàn toàn như thế nào. Thế là mạch lạc còn gì. Nhưng khi người ta đã bị hủy hoại hoàn toàn thì còn mạch lạc được không? Cơn chấn thương cốt lõi cuối cùng được phơi bày ở cuối truyện và chúng ta hiểu được vì sao cuốn tiểu thuyết này lại không thể viết theo lối tuyến tính. Đây là một sự thay đổi cực kỳ lớn của một nhà tiểu thuyết đã hiểu được, ngầm ẩn hay công khai, chấn thương tác động thế nào.”

“Chiến tranh luôn ám ảnh anh ấy,” Phạm Xuân Nguyên, nhà văn và nhà phê bình nổi tiếng ở Hà Nội, nói với tôi. “Dù anh ấy có viết gì thì vẫn là viết về chiến tranh. Bảo Ninh là loại người cần phải được ném vào những biến cố như chiến tranh… để trở thành nhà văn. Và chiến tranh – nói không quá – đã chọn anh ấy để viết về nó.”

Khi nói chuyện ông Nguyên thỉnh thoảng dừng lại để tìm lời diễn đạt chính xác điều khó diễn đạt: Việt Nam những năm hậu chiến và Bảo Ninh, người bạn lâu năm của mình: “Khi từ mặt trận trở về, những người lính Việt Nam dễ bị hai điều gây chấn thương cho họ,” ông nói. “Một là câu hỏi vì sao mình lại sống trong khi các đồng đội bị chết. Và hai là sống thời bình có tốt hơn là chết thời chiến không?”

Trong NBCT sau khi trở lại Hà Nội, Kiên đã nhìn lại những năm sống của mình và hồi tưởng. “Có thể từ rày cuộc đời anh sẽ luôn như thế này chăng: tối tăm, đau khổ, nhưng rạng ngời hạnh phúc? Và có thể giữa mơ và tỉnh, như cheo leo trên bờ vực, mà anh sẽ vượt nốt chặng đường đời còn lại. Và dù cho đó là khoảng thời gian bị mất, nhưng chẳng phải lỗi của anh, chẳng phải lỗi của ai cả. Hẵng cứ biết rằng anh sẽ còn được sống và từ đây sự sống ấy tùy thuộc anh. Hẵng cứ biết rằng không chỉ là một cuộc đời mới mà còn là cả một thời đại mới đang đến cùng anh phía trước. Anh đã sống sót. Nhưng mà tâm hồn thì vẫn đau.”

Bị ném vào đời giữa âm thanh tiếng bom nổ, Bảo Ninh sinh 1952, vào ngày quân Pháp tấn công làng ông ở Nghệ An, một tỉnh ở phía tây vịnh Bắc Bộ. Sau thất bại buộc phải rút khỏi Bắc Việt Nam của quân đội Pháp, gia đình ông chuyển ra Hà Nội. Bố ông – một người cộng sản trọn đời và là một đảng viên – là Viện trưởng Viện ngôn ngữ học Việt Nam. Bảo Ninh chịu ảnh hưởng của bố và lớn lên trong ngôi nhà trông giống như một “rừng sách” theo lời nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, phó chủ tịch HNVVN, nói với tôi. “Ở tuổi lớn tôi đọc chủ yếu là sách thiếu nhi,” Ninh nói. “Lúc đó đang thời chiến tranh lạnh, văn học nước ngoài ít được dịch. Chủ yếu tôi đọc sách Nga. Một vài cuốn của Trung Quốc. Jack London. Tôi thích đọc Erich Maria Remarque. Nguyễn Tuân tôi cũng thích.”

Tôi hỏi Bảo Ninh hồi ấy ông có nghĩ mình sẽ viết văn không. “Tôi sẽ thành một người khác. Không phải nhà văn. Tôi mới mười bảy tuổi. Ai mà biết được đến một ngày tôi lại thành nhà văn?” ông đáp. “Chiến tranh là đối lập với văn học, với nghề viết.” Ông xoay đi xoay lại bao thuốc lá. “Thật khó biết trong đời anh sẽ làm nghề gì… Nếu không đi lính tôi chẳng có gì để nói, để viết cả.”

Năm 1975 sau mấy năm chiến đấu trên đường mòn Hồ Chí Minh và chứng kiến một trong những trận đánh căng thẳng, ác liệt nhất, Bảo Ninh đã cùng trung đoàn mình vào đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất. Ông quay lại Hà Nội năm 1981 và sau đó mấy năm thì bắt đầu viết. Có một thời gian ông phải kiếm việc làm thêm ở khu phố cổ như bán xe đạp, Phan Thanh Hảo, một trong những dịch giả NBCT ra tiếng Anh, cho tôi biết.

Bảo Ninh vật lộn để viết. “Tôi đánh vật với chữ và không biết cách diễn tả nỗi đau nằm sâu trong lòng,” ông nói tại cuộc gặp ở Đài Loan. “Phải mất chục năm tôi mới dám viết NBCT ra giấy.” Ninh có theo một khóa học tại Trường viết văn Nguyễn Du – lấy tên một đại thi hào của Việt Nam – và tại đó ông đã viết cuốn tiểu thuyết danh tiếng nhất của mình như một phần của luận án tốt nghiệp.

Sau khi Bảo Ninh hoàn thành bản thảo, nó bắt đầu chu du ở HN dưới dạng in roneo – và đến năm 1990 được xuất bản dưới tên gọi Thân phận của tình yêu. Cuốn sách lập tức có tiếng vang ở Việt Nam, thậm chí đã giành được giải thưởng của HNVVN năm sau đó. “Dễ hiểu vì sao cuốn sách này được đón nhận nồng nhiệt ở Việt Nam. Nó thoát khỏi tuyên truyền và chính trị. Nó không thi vị hóa chiến tranh, tác giả của nó nhìn lại “những ngày căng thẳng khi chúng ta biết mình sống và chiến đấu vì cái gì, tại sao chúng ta chịu gian khổ và hy sinh”, tác giả Michael Fathers viết trên tờ The Independent năm 1994. Chính điều này đã lôi cuốn sự chú ý của Phan Thanh Hảo, người đã quyết định dịch cuốn sách sang tiếng Anh. Lập tức sau đó, cuốn tiểu thuyết đã gây tranh cãi vì sự mô tả chiến tranh và bị ĐCSVN cấm phát hành, thậm chí tước cả giải thưởng đã trao. Năm 1995, một cựu chiến binh Bắc Việt đã nói với tờ  New York Times: “Tôi rất giận Bảo Ninh. Sao Bảo Ninh lại viết về chiến tranh để mọi người thấy nó trần trụi như thế?”

Bản thảo tiếng Anh – mà theo một số nguồn tin là do một dịch giả trẻ người Anh ở Hà Nội lén mang khỏi Việt Nam – đã đến trên bàn của Geoffrey Mulligan, khi đó là biên tập viên của nhà “Secker and Warburg” tại London. Ông này gọi điện cho Frank Palmos, một phóng viên chiến trường người Australia, hỏi có biết Bảo Ninh không. “Biết chứ,” Palmos nói. “Hôm qua tôi vừa uống cà phê với ông ấy ở Hà Nội.” Mulligan đặt hàng cho Palmos – người đã trải qua cuộc chiến tranh Việt Nam và đã xuất bản một cuốn sách về nó nhan đề Ridding The Devils – viết một bản tiếng Anh dựa trên bản dịch thô của bà Hảo. Khi cuốn sách xuất hiện ở châu Âu và Bắc Mỹ nó đã gây chấn động vì đây là lần đầu tiên những người lính Việt Nam cho thấy họ cũng có những sự đau khổ như lính Mỹ. “Đó là cách để cho thế giới biết rằng thậm chí nếu chúng tôi có thắng thì tận sâu bên trong chúng tôi biết là không phải thế,” bà Hảo nói với tôi.

NBCT được coi là sách bán chạy ở phương Tây và đem lại sự bảo đảm tài chính cho Bảo Ninh vào thời ấy, còn ở Việt Nam và hầu khắp Đông Nam Á thì các bản copy lậu cả tiếng Việt và tiếng Anh tràn lan khắp nơi – “trong các hiệu sách, các quầy báo vỉa hè, trẻ bán báo cũng rao bán” như Thiên đã viết trong bài kể trên. Trong lúc ấy Ninh không chỉ chống chọi với cơn chấn thương chiến tranh của mình, “uống rượu và hút thuốc như điên” theo như ông Nguyên bảo tôi, mà còn cố gắng một cách vô ích thuyết phục chính quyền dỡ bỏ lệnh cấm cuốn sách. “Anh ấy không bao giờ hiểu được tại sao chính quyền lại cấm sách của mình, anh hiểu chứ” Nguyễn Quang Thiều nói. “Anh ấy chỉ buồn – và giờ vẫn buồn – về những điều xảy đến với đất nước mình, xã hội mình, và chính mình. Và anh ấy viết về những cái đó.” 

Năm 2016, sau 15 năm xuất bản, lệnh cấm được dỡ bỏ, và bản tiếng Anh lại xuất hiện trở lại trong các hiệu sách tiệm báo ở Việt Nam. Thậm chí dù Bảo Ninh không bị đe dọa bỏ tù nhưng ông vẫn bị chính quyền theo dõi, dọa dẫm. Thomas A Bass, giáo sư và nhà văn người Mỹ, đã viết về điều này trong cuốn Index on Censorship ba năm trước: “Người Việt Nam dùng các uyển ngữ khác nhau để nói về sự gián đoạn này trong nghề văn của BN, nhưng từ đúng nhất ở đây là kiểm duyệt… Thực tế ông đã được thưởng công cho sự im lặng của mình, nhưng dù sao ông vẫn bị kiểm duyệt.” 

Năm 1995 truyện ngắn Gió dại của Bảo Ninh viết về một cái làng ở miền Nam Việt Nam trong thời chiến tranh được đăng trên tờ Granta và đã khiến Hà Nội bực tức. Ông lại bị chính quyền phê phán và đôi lúc bị theo dõi kỹ. “Thường chúng tôi vừa đến một quán cà phê là lại phải đi ngay sang quán khác vì cảm giác như mình bị theo dõi,” Nguyễn Quý Đức, nhà văn và dịch giả văn học nói với tôi. Bảo Ninh cũng bị khủng hoảng tinh thần, chỉ biết tiêu thời gian trong sự cô đơn, hút thuốc và uống rượu nhiều, giống như nhân vật Kiên trong NBCT sau khi trở về Hà Nội “đã sống với lũ lượt những hồi ức khủng khiếp, ngày này qua ngày khác, đêm dài này nối tiếp đêm dài khác.” Năm 1995, nhà văn và nhà báo Pháp Janie Di Giovanni đến thăm Bảo Ninh ở Hà Nội về đã viết trên tờ The Guardian: “Tôi đến một khu dự án nhà ở hoang vắng để gặp nhà văn tài năng, u ám này. Tôi bị ám ảnh bởi lối văn trữ tình, cảm xúc mạnh mẽ, nỗi buồn lặng lẽ và tuyệt vọng của ông. Tôi không bao giờ quên được hình ảnh ông khi tôi rời khu nhà nghèo khổ ông ở - uống nhẹ vào lúc 11h sáng, cười bâng quơ, dáng vẻ buồn bã khủng khiếp bởi những thứ chiến tranh đã in hằn trong tâm trí ông.”

>> Nỗi buồn chiến tranh - khoảng lặng dài của Bảo Ninh (P3)

(Đoạn "Năm 1995... nói với tôi" không in trong Viết & Đọc).

—-

Ngân Xuyên dịch từ tiếng Anh.