Nỗi buồn chiến tranh - khoảng lặng dài của Bảo Ninh

noi-buon-chien-tranh-khoang-lang-dai-cua-bao-ninh

Bài của Rohit Inani, Nhà báo ở Delhi, Ấn Độ, viết cho các báo Time, The Nation and Himal Southasian

*

Bảo Ninh ngồi vào ghế và gọi trà. Ông đặt gói thuốc Camel lên bàn và nhìn ra ngoài cửa sổ. ”Dịp này đến Hà Nội không hay lắm”, ông nói.

Tháng Năm ở thành phố nóng bức và ngột ngạt, báo hiệu một mùa hè oi ả đang đến. Khi nhiệt độ lên cao, các đám đông như bị xì hơi. Sau đó, những cơn mưa rào rửa sạch thành phố, khơi động lại “tinh thần Hà Nội” mà theo Kiên – nhân vật trong Nỗi buồn chiến tranh (NBCT) cuốn tiểu thuyết táo bạo và nổi tiếng rộng khắp năm 1990 của Bảo Ninh dựa trên kinh nghiệm trận mạc của chính ông – là “mạnh nhất về đêm khi toàn thành phố dường như đã vắng vẻ, ướt át, cô đơn, lạnh lẽo và buồn tê tái”.

Chúng tôi gặp nhau tại một quán cà phê ở phố cổ Hà Nội, nơi yêu thích của các nhà báo, nghệ sĩ và các quan chức hạng trung của Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN), tổ chức đã lãnh đạo đất nước từ khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Bảo Ninh hiếm khi gặp gỡ báo chí hay trả lời phỏng vấn, ông thích một cuộc sống giản dị bình lặng ở Hà Nội, nơi ông ít khi rời đi. Ngoài phố, một cơn gió nhẹ thổi và ánh nắng chiếu vào bậu cửa sổ đôi lúc khiến Bảo Ninh chú ý. Ông đốt một điếu thuốc. “Tôi quý cái công của ông tìm gặp tôi, nhưng chẳng có gì để nói nhiều đâu,” ông bảo tôi thông qua cô phiên dịch Nguyễn Phương Loan. “Tôi là một nhà văn. Tôi chỉ viết thôi chứ nói về mình thì dở lắm.”

Bảo Ninh đẹp trai, có mái tóc nâu xám gợn sóng và cặp mắt sâu ủ rũ. “Ta bắt đầu nhỉ?” ông nói. “Không có nhiều thời gian đâu. Ngày mai tôi phải đi mổ.”  Tuần đầu tháng Năm ông được chẩn đoán là bị một khối u ung thư, hậu quả của nhiều năm trời uống rượu và hút thuốc, một thói quen ông có từ sau khi hết chiến tranh trở về nhà, về lại cuộc sống khó khăn thời hậu chiến, viết và uống thâu đêm suốt sáng tại nhà mình hồi đó ở một nơi tồi tàn tại trung tâm Hà Nội.

Bảo Ninh, người tháng Mười này sang tuổi 66, là nhà văn Việt Nam nổi tiếng nhất với cuốn tiểu thuyết NBCT mà khi bản dịch sang tiếng Anh được xuất bản năm 1994 đã lập tức được coi là cuốn truyện kinh điển về chiến tranh, được so với tác phẩm nổi tiếng Phía Tây không có gì lạ của nhà văn Đức Erich Maria Remarque, một tiểu thuyết viết về trải nghiệm của những người lính Đức trong Thế chiến Một. 

Dựa trên kinh nghiệm của một anh lính Bắc Việt trong tiểu đoàn 27 – trong số 500 thanh niên ra trận năm 1969, Ninh là một trong số mười người sống sót trở về, sau đó sáu người trong số đó đã tự tử - cuốn tiểu thuyết kể lại những trải nghiệm của một phản nhân vật – Kiên, một cựu chiến binh trung niên nhớ lại tháng ngày chiến trận của mình khi đi quy tập thi thể đồng đội trong các cánh rừng ở miền Trung Việt Nam. 

Năm 1994, Bảo Ninh trở thành nhà văn Việt Nam đầu tiên được giải thưởng văn học ở nước ngoài khi NBCT giành được giải tiểu thuyết nước ngoài xuất sắc của tờ The Independent, cùng với tác phẩm Đường đến San Giovanni của Italo Calvino. 

Tại buổi lễ trao giải ở Hay-on-Wye, Robert Winder khi đó là biên tập viên văn học của The Independent đã gọi cuốn tiểu thuyết là một tác phẩm “lịch sử” và đã nói khi tuyên bố giải: “Thông thường, lịch sử là câu truyện được bên thắng cuộc kể lại; cuốn sách của Bảo Ninh nhắc cho chúng ta rằng trong chiến tranh các bên đều thua.”

Khi Thế chiến hai kết thúc, Việt Nam lúc đó đang là thuộc địa Pháp, đã chiến đấu chống lại người Pháp để giành độc lập, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Mặt trận Việt Minh. 

Năm 1954, sau khi các lực lượng Việt Minh đánh bại quân Pháp, cuộc chiến tranh được giải quyết bằng việc ký hiệp định Geneve tạm thời chia đôi Việt Nam theo một đường vĩ tuyến chung gọi là vĩ tuyến 17. Quyết tâm thống nhất đất nước và đánh đuổi “đế quốc Mỹ”, Hồ Chí Minh – cái tên này có nghĩa “người mang lại ánh sáng” – đã tăng cường tấn công miền Nam lúc ấy do nhà lãnh đạo chống cộng Ngô Đình Diệm cầm quyền và được Mỹ ủng hộ. Đó là sự mở đầu cuộc xung đột kéo dài 20 năm giữa hai miền Bắc – Nam Việt Nam tính từ 1955. 

Cuộc Chiến Tranh Lạnh khi đó cũng bùng phát và cuộc xung đột Việt Nam đã lan đến tận hành lang Lầu Năm Góc. Năm 1965 lo sợ thắng lợi của phe cộng sản ở Việt Nam, Hoa Kỳ đã gửi những đội quân chiến đấu đầu tiên đến nước này. Cuộc chiến kéo dài hàng chục năm làm hao tổn nhiều sinh mạng, nhất là phía Việt Nam. Trưa ngày  30/4/1975, Sài Gòn thất thủ. Khi tin chiến thắng bay ra bắc, nhân dân đã đổ ra đường vẫy cờ hoa và hô vang “Việt Nam, Hồ Chí Minh! Việt Nam, Hồ Chí Minh!”

Khi âm vang chiến thắng lặng xuống, Việt Nam cuối cùng đã được thống nhất sau hàng chục năm chiến tranh, bắt đầu thấm thía cái giá phải trả để thực hiện ước mơ bao lâu mong đợi. Đất nước tan hoang, các thành phố thị trấn đổ nát dưới những trận bom từ máy bay trút xuống. Năm triệu héc ta rừng và cây trồng bị phá hủy do những vụ nổ lớn và các chất độc hóa học, bao gồm cả khoảng 43 triệu lít chất độc da cam. Hơn ba triệu người Việt Nam bị giết. Và với việc không còn sự giúp đỡ của Liên Xô thời bị cô lập quốc tế, mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa hoàn toàn sụp đổ. 

Năm 1986, sau gần một thập niên lạm phát cao và nghèo đói trên diện rộng, ĐCSVN bắt đầu thực hiện các biện pháp tự do hóa nền kinh tế, một phong trào được biết đến dưới tên gọi Đổi Mới, và đưa Việt Nam hai thập niên sau đó trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Năm 2008, tạp chí The Economist gọi đó là “một sự thần kỳ khác của châu Á” sau Trung Quốc.

Thế hệ người lớn Việt Nam hiện nay quá trẻ để nhớ tới chiến tranh. Bảo Ninh đứng ở trên lề sự chuyển đổi đó, là tác giả của cuốn tiểu thuyết chiến tranh được yêu chuộng nhất nước, người không chỉ nói với thế hệ đánh trận mà còn thương xót các nạn nhân cuộc chiến và khi làm thế đã tách khỏi bộ máy quan liêu Việt Nam vẫn duy trì món cocktail pha trộn lòng yêu nước, vinh quang và tuyên truyền. 

Khi chiến tranh lên đến đỉnh điểm, các đài phát thanh ở Hà Nội và hầu khắp miền Bắc Việt Nam đã mô tả cuộc chiến là “chính nghĩa”, kêu gọi sự “tận tụy” của quân đội Bắc Việt đối với ĐCSVN và thường gọi phía miền Nam là chính quyền “bù nhìn” của Mỹ. 

Ngày 5/3/1969, một buổi phát thường lệ trên Đài phát thanh Hà Nội, một trong mấy đài phát hoạt động ở Hà Nội thời ấy, đã kêu gọi những người lính mà họ gọi là “những người yêu nước” hãy chứng tỏ rằng “lòng trung thành của họ đối với Đảng và Cách Mạng đã giúp… cho sự phát triển… tinh thần hăng hái, linh hoạt trong cuộc chiến đấu và tiêu diệt kẻ thù”. Sau khi chiến tranh kết thúc, các bài diễn văn chính thức của đảng chỉ tập trung nói về những hành động anh hùng của người lính và sự hy sinh của họ cho đất nước, nhưng lại lấp liếm những chuyện đau khổ và tàn bạo của họ trong thời chiến.

“Đó là một điều quan trọng khi xảy ra và đến nay vẫn quan trọng, khi nhiều người Việt Nam hoặc không biết gì về quá khứ chiến tranh của họ hoặc chọn cách quên đi những điều họ biết,” Nguyễn Việt Thanh, nhà văn Mỹ gốc Việt được giải Pulitzer viết cho tôi qua email. Nhưng trong khi cả một thế hệ đặt quá khứ lại phía sau để đi tìm một căn cước dân tộc mới thì Bảo Ninh lại chuyển dịch khó khăn. Tôi đã phỏng vấn một số người bạn của ông là nhà văn và cựu chiến binh, phần lớn họ đều nói tới hai đặc điểm nổi bật, không thay đổi qua năm tháng của Bảo Ninh: trầm lặng và buồn bã.

Một buổi chiều, sau khi uống rượu và đốt thuốc liên tục trong phòng họp của Hội Nhà văn Việt Nam (HNVVN), một hội đoàn văn hóa chính thức do ĐCSVN lãnh đạo, một số nhà văn thân thiết của Bảo Ninh ngồi bên chiếc bàn gỗ tếch dài chờ bữa ăn được đặt sẵn. Phần lớn những người ở đây là hội viên.

“Bảo Ninh luôn trầm lặng. Anh ấy không bao giờ nói về việc viết lách hay các sách của mình. Chúng tôi đã quen thế rồi.” Nguyễn Chí Hoan nói. “Anh có bao giờ hỏi anh ấy là vì sao lại thế không?” tôi hỏi. Hoan bật cười. “Chúng tôi không dám hỏi anh ấy điều đó. Ở đây, chúng tôi tôn trọng sự im lặng của anh ấy.” Hoan chỉ sang Đào Bá Đoàn giục nói. “Anh này ngồi với Bảo Ninh nhiều. Đoàn, ông nói về Bảo Ninh đi.” 

Đoàn, một nhà văn, giật nắp lon bia tu một ngụm to rồi chậm rãi đưa tay phải ra vung lên đầu, ngón tay trỏ chỉ vào thái dương mình. “Đầu anh ấy vẫn còn chứa một nỗi buồn lớn,” anh nói. “Chỉ người Việt Nam mới có thể hiểu được nỗi buồn trong tâm anh ấy.” Những người khác thở dài gật đầu đồng ý. Sau đó bầu không khí im lặng trong phòng bị phá vỡ khi cánh cửa mở ra. “A, ăn trưa ở đây,” Đoàn kêu lên.

Kiên, người kể chuyện trong NBCT, nhập ngũ năm 1969 ở tuổi 21, khi làn sóng yêu nước đang tràn qua VN để đáp lại sự xâm lược của kẻ thù. Anh được phiên về Tiểu đoàn 27, một đơn vị gồm 500 quân nhân hầu hết là trẻ, và mùa khô năm ấy cả đơn vị hầu như đã bị thiệt hại một phần mười quân số do bom napal thả trong rừng. Năm 1976, sau khi chiến tranh kết thúc, Kiên trở lại Tây Nguyên trong đội quy tập hài cốt liệt sĩ, và ngồi trên chiếc xe Zil do Liên Xô sản xuất anh đi đến truông Gọi Hồn. Lúc đó vẫn còn chút hy vọng về tương lai, Kiên hỏi người lái xe: “Nhưng hòa bình không là điều tốt hơn à?” thì được nghe câu trả lời: 

“Nền hòa bình này… Hừ tôi thấy hình như các mặt nạ người ta đeo trong những năm trước rơi hết. Mặt thật bầy ra gớm chết. Bao nhiêu xương máu đã đổ ra…”

“Mẹ khỉ. Ăn nói gì lạ thế Sơn?”

“Lạ chó gì mà lạ. Cái loại lính như ông ấy mà còn là vỡ mộng đau đớn với đời. Nhưng ông ơi, thời đại của cánh ta hết rồi. Mà nói thật chứ sau chiến thắng oai hùng này những thằng lính chiến đấu như ông ấy mà ông Kiên, chả trở lại thành người bình thường được nữa đâu. Ngay cả giọng người, mẹ kiếp, xin nói là còn chán mới hòng có lại để giao tiếp với đời.”

>> Đọc tiếp: Nỗi buồn chiến tranh - khoảng lặng dài của Bảo Ninh (P2)

—-

Ngân Xuyên dịch từ tiếng Anh.

Đã đăng trong "Viết & Đọc, chuyên đề mùa xuân 2019", Nxb Hội Nhà văn.