Nỗi ám ảnh Venezuela và bài học trước thềm năm mới

noi-am-anh-venezuela-va-bai-hoc-truoc-them-nam-moi

“Trên thế giới này không có đồng minh hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn” (Winston Churchill)

Trong khi Venezuela vẫn là một tin buồn (bad news) thì ông Trump hẹn gặp ông Kim tại Việt Nam là một tin vui (good news) về câu chuyện Mỹ-Triều và liên Triều. Nhiều người Việt đang kỳ vọng đầu năm Kỷ Hợi sẽ đem lại một cơ hội vàng (về đối ngoại), cũng như đội bóng đá Việt Nam đã suýt nữa đem lại huy chương vàng cuối năm Mậu Tuất!


Đầu năm Kỷ Hợi có nhiều chuyện đáng nói, trong đó Venezuela là nỗi ám ảnh làm nhiều người giật mình. 

Tại sao một đất nước giàu đẹp như vậy, đứng hàng đầu thế giới về dầu hỏa và hoa hậu, nay bỗng suy sụp biến thành một thảm họa. 

Bài học về Venezuela là lãnh đạo của họ đã ngộ nhận xây dựng mô hình Xã hội Chủ nghĩa lỗi thời, và ảo tưởng dựa vào các nước chuyên chế (như Cuba, Nga, Trung Quốc) về kinh tế và ý thức hệ, nên không lường được hậu quả. Nay họ nhận ra sai lầm thì đã quá muộn (nhưng “muộn còn hơn không”). 

Thực trạng Venezuela 

Theo các chuyên gia (như Moisés Naím), vào thập niên 1970 Venezuela là một trong 20 nước giàu nhất thế giới và giàu nhất nhì châu Mỹ La-tinh, với thu nhập bình quân đầu người trên 20.000 USD (chỉ kém Argentina). Nhưng khi giá dầu tụt dốc, nhất là sau khi Hugo Chávez lên cầm quyền (1998), Venezuela đã biến thành một “quốc gia thất bại” (failed state) vừa nghèo đói và kiệt quệ (về kinh tế), vừa độc tài và tham nhũng (về chính trị). 

Chávez giỏi khai thác sự bất mãn của người dân bằng dân túy để cầm quyền, nhưng theo mô hình XHCN với chế độ độc tài tham nhũng như “liều thuốc độc để tự sát”. (Venezuela’s Suicide: Lessons from a Failed State, Moisés Naím &Francisco Toro, Foreign Affairs, Nov-Dec 2018). 

Sau khi lên làm tổng thống, Hugo Chávez đã đưa Venezuela theo Chủ nghĩa Xã hội, nhưng CNXH không phải là nguyên nhân duy nhất làm Venezuela suy sụp, mà dầu khí mới là “thủ phạm chính”. Nhưng lý giải bằng dầu khí cũng không ổn vì các nước khác cũng xuất khẩu dầu nhưng không bị suy sụp như vậy. 

Venezuela suy sụp còn do các nguyên nhân nội tại khác mang đặc thù của khu vực Mỹ La-tinh, trong đó ảnh hưởng sâu rộng của Cuba là một nguyên nhân chủ yếu. Theo Chávez, quan hệ với Cuba không chỉ là đồng minh, mà còn là “hợp nhất hai cuộc cách mạng” (a merger of two revolutions). Theo đuổi ý thứ hệ XHCN đã lỗi thời chẳng khác gì “tự sát”, vì chính Cuba cũng đang tìm cách “đổi mới hay là chết”. 

Nicolas Maduro và nữ cựu tổng thống Brazil Dilma Vana Rousseff với bức hình Hugo Chávez.

Khi Nicolas Maduro lên thay Hugo Chávez (năm 2013), ảnh hưởng của Cuba ngày càng lớn. Những vị trí nhạy cảm trong chính quyền Venezuela (như an ninh và quân đội) đều do những người được đào tạo tại Cuba nắm giữ. Maduro đã cắt đứt mọi liên hệ (cả về kinh tế và chính trị) với Mỹ và các nước dân chủ khác trong khu vực. Tệ nạn tham nhũng và độc tài làm lãnh đạo Venezuela bị cô lập và thiếu năng lực quản trị, dẫn đến các chính sách sai lầm tai hại. 

Theo New York Times (5/2/2019), lạm phát đã vượt 1 triệu %, thất nghiệp 34,3%, GDP năm 2013 là 234,4 tỷ USD, năm 2018 chỉ còn 96,3 tỷ USD, làm 61% dân số trở nên cực nghèo (extreme poverty), và gần 3 triệu người phải bỏ tổ quốc ra đi tị nạn tại các nước khác.

Khi kinh tế càng đi xuống thì các tệ nạn và tội ác càng tăng lên. Nạn buôn ma túy và rửa tiền cùng tồn tại song song với sản xuất dầu khí, đang trở thành nguồn lợi chính của những người gắn bó với giới cầm quyền (ruling elite), trong đó bao gồm các quan chức cao cấp và họ hàng với gia đình tổng thống. Các băng đảng tội phạm đang cộng tác với các lực lượng an ninh của chính quyền để điều hành các đường dây buôn lậu và tống tiền (extortion rackets) như một “hệ thống quyền lực dân sự không chính thức” (de facto civil authority).

Hiện nay, có rất ít sự lựa chọn để đảo ngược tình thế làm nhiều người Venezuelan do bất lực (hopelessness) nên sẵn sàng ủng hộ các biện pháp mạo hiểm như can thiệp quân sự (do Mỹ cầm đầu). Trump tuyên bố “có nhiều sự lựa chọn cho Venezuela” và ông “không loại trừ phương án can thiệp quân sự”, như tin đồn có “5.000 quân Mỹ tới Colombia” (trong sổ tay John Bolton). Trong khi đó, các nước láng giềng của Venezuela phản đối can thiệp vũ trang. 

Theo các chuyên gia, can thiệp quân sự “không phải là một chiến lược đúng”, và ý tưởng can thiệp quân sự của Trump là “sai lầm và nguy hiểm”, có thể làm cho tình hình càng xấu hơn.

Gần đây, các nước Mỹ La-tinh đã nhận ra bất ổn định của Venezuela sẽ lan truyền ra khu vực. Nhưng các biện pháp gây sức ép thông thường như trừng phạt kinh tế và cấm vận dầu khí (oil blockade) đều không hiệu quả. Ngoại giao truyền thống cũng không hiệu quả, thậm chí còn phản tác dụng. Quá trình đàm phán giữa các nước khu vực với Caracas không kết quả và chỉ có lợi cho chính quyền Maduro. 

Muốn cấm vận có hiệu quả chắc phải vận động Cuba thỏa hiệp, và biến cấm vận vũ khí của Mỹ thành cấm vận toàn cầu. Thực tế là các nước Mỹ La-tinh không biết phải làm gì với Venezuela, và có thể chẳng làm được gì, trừ nhận dân tị nạn vì lý do nhân đạo. Hiện nay, thay đổi chế độ khó hơn nhiều so với thay đổi lãnh đạo.

Trước mắt, thách thức đối với dân chúng và lãnh đạo của họ cũng như cộng đồng quốc tế là phải ngăn chặn được hệ lụy của việc Venezuela sụp đổ. Dù dân chúng chưa có lãnh đạo chính trị đủ mạnh, nhưng họ đã chứng tỏ ý chí đấu tranh của mình. Hy vọng các điểm sáng trong phong trào đấu tranh của dân chúng Venezuela không bị dập tắt, và sự phản đối chế độ độc tài sẽ tiếp tục được duy trì. Diễn biến trên bàn cờ quốc tế trong thời gian tới sẽ quyết định quan hệ giữa Bắc Kinh với Caracas, nhất là trong bối cảnh chiến tranh thương mại và đàm phán Mỹ-Trung đang diễn ra hiện nay. Nhưng kịch bản của một giải pháp chính trị vẫn còn bất định, và nhiều nước vẫn lo ngại khủng hoảng Venezuela có thể biến thành xung đột quân sự.

Bài học Venezuela 

Với trữ lượng dầu hỏa vào loại cao nhất thế giới, chiếm 95% giá trị xuất khẩu, nên khi giá dầu tụt dốc, kinh tế Venezuela cũng tụt hậu theo. Dầu khí là “con dao hai lưỡi” như một duyên nợ buộc chặt Venezuela với Trung Quốc (cũng như với Nga). Đất nước giàu đẹp nổi tiếng về dầu hỏa và hoa hậu đã biến thành một bi kịch (dưới thời Hugo Chavez), làm đất nước khánh kiệt. 

Chế độ chính trị ngày càng độc tài và tham nhũng đang xô đẩy Venezuela đến bờ vực hỗn loạn (dưới thời Nicolas Maduro), có nguy cơ nội chiến và can thiệp quân sự. 

Tuy Trung Quốc không phải là nguyên nhân chính nhưng trong 20 năm qua đã góp phần làm cho Venezuela bị lệ thuộc và suy sụp như hiện nay, với nguồn tín dụng lớn (như “bẫy nợ”) đã buộc chặt chế độ này vào ý thức hệ XHCN để khai thác tài nguyên. 
Venezuela mắc nợ hơn 150 tỷ USD nên phải dùng dầu khí để trả nợ cho các nước đã bảo vệ mình (như Cuba, Nga và Trung Quốc). Nay Mỹ và phương Tây công nhận Chủ tịch Hạ viện Juan Guiando là “Quyền Tổng Thống”, nhưng Trung Quốc và Nga vẫn bênh vực Nicolas Maduro. Trong khi đó Việt Nam khôn ngoan và thận trọng hơn, không ủng hộ hay chống bên nào. 


Sự thất bại của Chavez và Maduro tại Venezuela cũng là một bài học cho Trung Quốc. Nhưng dù chế độ XHCN hiện nay ở Venezuela có sụp đổ, chắc Bắc Kinh vẫn không buông Venezuela, một mặt để bảo vệ những lợi ích mà họ đã đầu tư, mặt khác để tiếp tục khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản của Venezuela, được đánh giá là tiềm năng còn rất lớn. 

Cách đây mấy năm (2015) Bắc Kinh đã bắt đầu tiếp xúc với phe đối lập, để đề phòng thay đổi chế độ và chuẩn bị cho “phương án thay thế” (như kinh nghiệm đối với Campuchia).

Trước khi Hugo Chavez thắng cử (1998) tập đoàn dầu khí Trung Quốc (NPCC) đã tìm cách đàm phán để khai thác dầu khí ở Venezuela. Sau khi lên cầm quyền, Chavez đã tìm thấy ở Trung Quốc một đồng minh lớn về ý thức hệ, nên không thay đổi các hợp đồng đã ký với Trung Quốc trước đó, mà còn mở rộng hơn nữa. 

Năm 2004 là một bước ngoặt trong quan hệ hai nước, khi Bắc Kinh và Caracas đã thỏa thuận cho Trung Quốc được đầu tư mà không phải nộp thuế. Caracas đã dành cho Bắc Kinh nhiều ưu đãi về thuế quan, trong khi Bắc Kinh coi Venezuela là cánh cửa để xâm nhập khu vực Mỹ La-tinh (là sân sau của Mỹ). 

Năm 2005, Trung Quốc đã đầu tư một tỷ USD vào Venezuela, nhiều hơn tất cả các nước khác trong khu vực cộng lại. Tổng số tín dụng của Trung Quốc dành cho Venezuela là 60 tỷ USD, chiếm 40% tổng số tín dụng dành cho khu vực, trong đó dành 90% để đầu tư khai thác khoáng sản. Venezuela đã trở thành quốc gia mắc nợ Trung Quốc nhiều nhất tại khu vực Mỹ La-tinh (với 54 tỷ USD). 

Tháng 9/2018, Bắc Kinh đã đầu tư thêm 5 tỷ USD để mua lại 10% cổ phần của tập đoàn dầu khí Nhà nước (PDVSA). Theo báo Thanh Niên (3/5/2017), PVN cũng bị sa lầy tại Venezuela (mất 1,8 tỷ USD) vì đầu tư vào một liên doanh dầu khí.

Mục tiêu chính của Trung Quốc là khai thác khoáng sản, nên các dự án đầu tư phát triển không hiệu quả vì chỉ để mỵ dân. Dự án xây dựng tuyến đường sắt cao tốc đầu tiên tại châu Mỹ La-tinh (trị giá 7,5 tỷ USD) do tập đoàn China Railway Group thực hiện, đã khởi công từ năm 2009 nhưng sau đó bị đình trệ. Đến năm 2015 tập đoàn này đã rút, để lại cho Venezuela một khoản nợ là 400 triệu USD. Một dự án khác cũng không hiệu quả là công ty liên doanh điện tử viễn thông Orinoquia đã ra đời (năm 2010) với 35% vốn đầu tư là của Huawei. 

Quan hệ hợp tác theo kiểu bán rẻ tài nguyên quốc gia cho nước ngoài, được xúc tiến (dưới thời Hugo Chavez) nay được tăng cường khai thác (dưới thời Nicolas Maduro). Sau khi Chavez qua đời, Maduro vẫn tiếp tục thỏa thuận cho Trung Quốc và một số nước khác khai thác trên quy mô lớn nhiều loại khoáng sản quý hiếm (như vàng, kim cương, coltan, boxit, sắt) tại vùng “vòng cung Orinoco”, với tổng diện tích lớn bằng 12% lãnh thổ Venezuela.

Trong khi sản xuất nội địa của Venezuela không ngóc đầu lên được, thì hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã tràn vào. Sau khi Venezuela đã lún sâu vào khủng hoảng, Bắc Kinh từ chối tham gia vào các nỗ lực của khu vực nhằm giúp Venezuela tìm lối thoát. Trung Quốc vẫn tin vào mối quan hệ giữa hai chế độ cùng chung ý thức hệ, với nguồn tín dụng lớn của các ngân hàng Trung Quốc sẽ giúp Venezuela duy trì chính sách bán dầu khí và khoáng sản làm trụ cột của nền kinh tế, bất chấp các dấu hiệu biến động thị trường và khủng hoảng chính trị.

Xu hướng thoát Trung

Lâu nay, người ta hay nói đến “thoát Trung” như một khái niệm mà chưa rõ “thoát cái gì và thoát thế nào”. Trong khi còn tranh cãi và chưa khái quát hóa được vấn đề, thì hãy cụ thể hóa vài trường hợp điển hình (như case studies) về xu hướng “thoát Trung” để làm sáng tỏ vấn đề này. Xu hướng “thoát Trung” ngày càng rõ trong bối cảnh chiến tranh thương mại khi “sáng kiến BRI” và công nghệ 5G của Huawei ngày càng bị nhiều nước tẩy chay. 

Xu hướng “thân Trung” tại một số nước “có thể đảo ngược” (reversible), do ngộ nhận về ý thức hệ hay vì đấu tranh quyền lực và do tham nhũng nên đánh đổi lợi ích lâu dài của dân tộc lấy lợi ích trước mắt. Trong khi đó, xu hướng “thoát Trung” là “không thể đảo ngược” (irreversible) do “phản tỉnh” (backlash) dẫn đến “phản ứng chống lại” (push back) để tránh “bẫy nợ” (debt trap) của Trung Quốc và “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” (neo-colonialism). 

Trong khi một số nước (như Myanmar, Malaysia, Bắc Triều Tiên) phản tỉnh và tìm cách “thoát Trung”, tuy không giống nhau và không dễ dàng, nhưng đã thấy lối thoát, thì một số nước khác (như Philippines, Thailand, Cambodia, Laos) vẫn mắc kẹt trong “thế lưỡng nan”. Venezuela vẫn đang quằn quại chuyển mình như “con rắn đang lột xác”, và những gì đang diễn ra tại đó làm người ta nhớ tới bài học của Myanmar và Malaysia gần đây. Nhưng “thoát Trung” không có nghĩa là phải chống Trung Quốc, mà phải hợp tác với họ bình đẳng hơn. 

Tại Myanmar, sau hai thập niên (1960-1970) của “Liên bang Cộng hòa XHCN Miến Điện” (dưới thời Ne Win) giới quân sự đã biến một đất nước giàu đẹp thành một xã hội nghèo nàn lạc hậu và một chế độ độc tài quân phiệt. Nhưng may là Thein Sein đã khôn ngoan hòa giải với phe đối lập của bà Aung San Suu Kyi để nhường quyền lực sau bầu cử (năm 2016). Họ đã đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích phe nhóm và chế độ. 

Myanmar là một bài học về sự thức tỉnh của giới quân sự muốn bảo vệ quyền lực và lợi ích của họ, trước sức ép quốc tế và xu thế dân chủ trong nước. Họ đã hòa giải dân tộc nhằm “thoát Trung” trước nguy cơ bị “Hán Hóa” của “chủ nghĩa thực dân kiểu mới” (như ông Mahathir Mohamad đã cảnh báo).

Malaysia là một bài học điển hình về sự phản kháng của phe đối lập do ông Mahathir Mohamad cầm đầu đã khôn ngoan hòa giải và liên minh với ông Anwar Ibrahim để đủ sức mạnh đánh bại ông Najib Razak tại cuộc bầu cử (9/5/2018). Đó là một “cơn địa chấn” mở đường cho Malaysia “thoát Trung” và “chủ nghĩa thực dân kiểu mới”, để thời chấm dứt chính phủ Rajib Razak tham nhũng và “thân Trung” đã xô đẩy Malaysia vào “bẫy nợ” vì chạy theo sáng kiến BRI để trục lợi, làm đất nước ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc. Sự kiện ông Mahathir “tái xuất giang hồ”, làm thủ tướng (lần thứ hai) khi đã 92 tuổi là một hiện tượng hiếm có, góp phần làm thay đổi cục diện chính trị ASEAN và bức tranh địa chính trị Đông Nam Á. 

Bắc Triều Tiên là một bài học điển hình khác về sự trỗi dậy ngoạn mục của hai anh em Kim Jong-un và Kim Yo-jong đã khôn ngoan và dũng cảm hòa giải với chính quyền Moon Jae-in của Nam Triều Tiên, mở ra cơ hội hợp tác Liên Triều và triển vọng từng bước thống nhất đất nước, làm cơ sở cho hòa hoãn Mỹ-Triều, nhằm phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. Nếu vai trò Seoul càng tăng thì vai trò Bắc Kinh càng giảm. Trong bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, triển vọng hòa giải Liên Triều và hòa hoãn Mỹ-Triều đã mở ra cho Bình Nhưỡng cơ hội “thoát Trung” và thoát hiểm, làm thay đổi bức tranh địa chính trị Đông Bắc Á. 

Trở về tương lai

Hai nhà lãnh đạo đối lập Guaido và Maduro - Ảnh: 10z US Politics

Trong bối cảnh Venezuela đang bị nghèo đói (về kinh tế) và phân hóa sâu sắc (về chính trị) không thể có một giải pháp chính trị nào hoàn hảo và hiệu quả ngay, mà cần phải cải cách thể chế từng bước. Muốn khôi phục nền dân chủ tại một đất nước như Venezuela chắc phải mất một thế hệ. Giải pháp can thiệp quân sự là bất đắc dĩ và mạo hiểm, phải kết hợp với giải pháp kinh tế và chính trị. Tuy Mỹ đang tăng cường sức ép với Venezuela bằng cấm vận và đe dọa can thiệp quân sự, nhưng nếu Mỹ can thiệp vũ trang thì sẽ tạo ra một tiền lệ xấu, bị nhiều nước phản đối (không chỉ Trung Quốc và Nga). Nhưng không can thiệp để bảo vệ Juan Guiando vào lúc này cũng dễ mất cơ hội vì Trung Quốc đang đàm phán thương mại với Mỹ. 

Để thay đổi một cách ôn hòa (tránh bạo loạn và nội chiến) phải có mấy yếu tố cần và đủ (như “game changers”). 

Thứ nhất, phe đối lập phải được nhân dân ủng hộ để có chính nghĩa. Cuộc biểu tình lớn gần một triệu người tham gia (23/1/2019) đánh dấu sự trưởng thành của phe đối lập được dân chúng ủng hộ (từ dưới lên). 

Thứ hai, Chủ tịch Hạ viện Juan Guiando phải được quốc tế (như Mỹ và phương Tây) công nhận để có chính danh. Thứ ba, Juan Guiando phải phân hóa và vận động quân đội giữ thái độ trung lập (để tránh đàn áp). Thứ tư, Juan Guiando và các nước ủng hộ phải vận động Trung Quốc (và Cuba, Nga) để Maduro ra đi. Đây là điều khó nhất, đang gây bế tắc và kéo dài chế độ Maduro (như Mugabe tại Zimbabwe).

Tuy Venezuela không giống Myanmar và các nước khác ở châu Á, nhưng cũng bị Trung Quốc thao túng bằng ý thức hệ XHCN và “bẫy nợ” (như “chủ nghĩa thực dân kiểu mới”) nhằm khai thác tài nguyên (dầu khí). Cái giá phải trả cho sự lệ thuộc vào Trung Quốc là khó lường, vì đến khi nhận ra thì đã quá muộn. Đây là một bài học lớn cho sự ngộ nhận về ý thức hệ đã biến một đất nước giàu đẹp vốn có một hệ thống chính trị đa nguyên, thành một đống đổ nát (a mess). 

Nay người dân Venezuela phải viết lại lịch sử của họ bằng máu và nước mắt, nhằm thức tỉnh và thoát khỏi cái bóng của mình để “trở về tương lai” (back to the future).

Lời cuối

Trong Thông điệp Liên bang (5/2/2019, đúng ngày mồng một tết Kỷ Hợi), tổng thống Trump đã khẳng định lập trường về Venezuela: “Mỹ đã chính thức công nhận chính phủ hợp pháp của Venezuela, và tổng thống lâm thời mới là Juan Guaidó. Chúng tôi ủng hộ nhân dân Venezuela trong nỗ lực cao cả của họ vì tự do, và lên án sự tàn bạo của chế đô Maduro mà chính sách xã hội chủ nghĩa của nó đã biến một đất nước giàu có nhất Nam Mỹ thành một quốc gia vô cùng nghèo nàn và tuyệt vọng…

Ngay tại Mỹ, chúng tôi cũng giật mình vì những lời kêu gọi đất nước đi theo chủ nghĩa xã hội… Tối nay, chúng tôi cả quyết rằng Mỹ sẽ không bao giờ là một nước xã hội chủ nghĩa”. Về cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ-Triều sắp tới, ông Trump đã thông báo: “Chủ tịch Kim và tôi sẽ gặp lại vào ngày 27 và 28 tháng Hai tại Việt Nam”. (President Donald Trump’s State of the Union address, the White House, February 5, 2019).

Trong khi Venezuela vẫn là một tin buồn (bad news) thì ông Trump hẹn gặp ông Kim tại Việt Nam là một tin vui (good news) về câu chuyện Mỹ-Triều và liên Triều. Nhiều người Việt đang kỳ vọng đầu năm Kỷ Hợi sẽ đem lại một cơ hội vàng (về đối ngoại), cũng như đội bóng đá Việt Nam đã suýt nữa đem lại huy chương vàng cuối năm Mậu Tuất!

NQD. 7/2/2019 (3 Tết Kỷ Hợi). 

---

Tham khảo

Venezuela’s Suicide: Lessons from a Failed State, Moisés Naím &Francisco Toro, Foreign Affairs, Nov-Dec 2018. 

President Donald Trump’s State of the Union address, the White House, February 5, 2019Affairs, Nov-Dec 2018. 

A Geopolitical Showdown in Venezuela Will Only Make Things Worse, Alejandro Velasco, New York Times, February 5, 2019.

Venezuela Shatters the Myth of Non-Intervention, Andrés Velasco, Project Syndicate, February 4, 2019

The battle for Venezuela’s future, the Economist, February 2, 2019

Venezuela’s Collapse, Patricia Laya, Bloomberg, January 24, 2019

Venezuela’s Unprecedented Collapse, Ricardo Hausmann, Project Syndicate, July 31, 2017