Những giải pháp để lễ hội văn minh, quy củ như Nhật Bản

nhung-giai-phap-de-le-hoi-van-minh-quy-cu-nhu-nhat-ban

Biển người đổ về lễ hội chùa Hương 2019.

Ở Việt Nam sau Tết sẽ là lễ hội. Du xuân trẩy hội, thăm viếng đền chùa để cầu nguyện thần Phật phù hộ cho ước mơ của mình đã trở thành một nhu cầu, thói quen từ lâu của người dân nước Việt. Nhưng năm nào cũng thế, khi lễ hội diễn ra lại tái diễn những cảnh lộn xộn mất an toàn với các màn “cướp lộc”, “tranh ấn” vô cùng phản văn minh và đi ngược lại tinh thần nhân văn vốn có của các lễ hội. 

Tại sao lại diễn ra tình trạng đó?

Nhu cầu được tham gia vào các nghi lễ có tính chất tâm linh cùng ước nguyện được các thế lực siêu nhiên phù hộ trong cuộc sống là một nhu cầu chính đáng của con người. Nhu cầu ấy có ở bất cứ ai không kể sang hèn. Không chỉ ở Việt Nam, ở cả các nước khác dù đã công nghiệp hóa và có nền kinh tế phát triển, khoa học-kĩ thuật hiện đại, người dân vẫn có nhu cầu ấy. 

Chẳng hạn ở Nhật Bản, vào dịp Tết (người Nhật đón tết Dương lịch), các đền chùa ở Nhật đông cứng người đến hành lễ và cầu nguyện những điều tốt đẹp cho gia đình mình. Ở đền, chùa, họ cũng thực hành nhiều nghi lễ có tính chất tâm linh như rút quẻ, xin xăm, làm lễ trừ tai, giải hạn… Có những ngôi đền, chùa nổi tiếng đón cả triệu du khách vào dịp Tết. 

Ở Nhật Bản, các lễ hội lớn chủ yếu diễn ra vào mùa hè. Có những lễ hội kéo dài nhiều ngày. Có lễ hội thu hút đến cả hàng vạn người tham gia như lễ hội Jidai, lễ hội Gion…

Tuy nhiên, cái khác nhau cơ bản nhất giữa các lễ hội, nghi lễ tâm linh ở Việt Nam và Nhật Bản là sự văn minh. 

Ở Nhật tuy đông đúc nhưng khách tham gia ai cũng tuân thủ nội quy và các phép cư xử nơi công cộng: không vứt rác lung tung, không hút thuốc, không chen lấn, xô đẩy, không cướp các đồ làm lễ và trật tự xếp hàng. 


Ở các đền thờ Thần đạo hay chùa khi đang diễn ra các nghi lễ đặc biệt dành cho khách như trừ tai, giải hạn, kết hôn… người ta sẽ không cho phép chụp ảnh. Để nhắc dám đông đang vây kín chỉ cần một nhân viên mặc đồng phục giơ cao chiếc biển vẽ biểu tượng cấm chụp ảnh hướng về đám đông là đủ. Đơn giản thế thôi nhưng cả đám đông lặng phắc dõi theo buổi lễ trang trọng. Trong đám đông ấy không chỉ có người Nhật mà còn có cả rất nhiều du khách người nước ngoài. 

Còn ở Việt Nam thì sao? Những lễ hội lớn có sự tham gia của nhiều người, những lễ hội nổi tiếng hoặc có các nghi lễ đặc biệt như phát lộc, phát ấn mỗi năm đều tái diễn biết bao nhiêu cảnh lộn xộn và phản cảm. Lý do nào khiến cho tình trạng ấy xảy ra và tái diễn liên tục? 

Rất dễ dàng có thể kể ra rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng ấy đơn giản vì tình trạng ấy là một hiện tượng xã hội, phản ánh và quy chiếu rất nhiều vấn đề khác đang tồn tại trong xã hội đương đại. 

Có thể thấy ở đó sự bất an trong tinh thần và sự hoang mang trong lý giải niềm tin của con người. Cũng có thể tìm ra ở đó những khiếm khuyết trong sự “xã hội hóa” của các cá nhân khi ở họ thiếu vắng phép cư xử tối thiểu ở nơi công cộng và tinh thần hợp tác cộng đồng… 

Nhưng ở đây, tôi muốn nhấn mạnh một lý do lớn và trực tiếp. Đó là sai lầm lặp đi lặp lại của bộ phận có trách nhiệm trong việc tổ chức các lễ hội. 

Rõ ràng trước khi tiến hành lễ hội, những người có trách nhiệm này hoàn toàn có thể dự tính trước được lượng khách đến và các tình huống phát sinh nhưng dường như họ đã không có các biện pháp có hiệu quả để cải thiện tình hình. 

Phải làm thế nào để lễ hội diễn ra văn minh?

Phải xác định rằng trung tâm của lễ hội là người dân cho nên để lễ hội thành công thì việc đương nhiên cần làm là phải dân chủ hóa lễ hội. Lễ hội phải do chính người dân đảm nhận trong tất cả các công việc. Chính quyền và các ban ngành khác nếu tham gia chỉ nên tham gia trong vai trò cố vấn, trợ giúp vĩ mô hoặc trợ giúp về chuyên môn. 

Khi người dân được đảm nhận vai trò này họ sẽ ý thức được trách nhiệm và quyền lợi của họ. Đấy là nền tảng quan trọng để lễ hội diễn ra suôn sẻ thành công. 

Nếu để ý sẽ thấy dường như tồn tại một nghịch lý: những lễ hội lớn có sự tham gia của chính quyền sở tại và đầy đủ các ban ngành thì lại thường xảy ra sự số hoặc tình trạng lộn xộn trong khi những lễ hội ở làng do chính người dân trong làng tổ chức với tính tự chủ cao thì hầu như lại không hề diễn ra tình trạng bát nháo. 


Quy mô lượng người tham gia cũng là một yếu tố quyết định nhưng về cơ bản thì vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự làm của người dân quyết định đến sự thành công. 

Người Việt khi đến Nhật Bản và tham gia lễ hội hay thăm viếng đền chùa nếu tinh ý sẽ nhận thấy những người trong ban tổ chức lễ hội và nhân viên điều hành nghi lễ hầu như không phải là nhân viên của chính quyền hay các ban ngành trực thuộc khối hành chính ở địa phương. Họ chính là những người làm việc thường xuyên ở những ngôi đền, chùa đó hoặc là những người dân làm tình nguyện. 

Trong những buổi lễ như thế, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương chủ yếu thể hiện ở việc đảm bảo an ninh và an toàn với sự xuất hiện của những chiếc xe cứu hỏa, cứu thương cùng các nhân viên trong tư thế sẵn sàng hoặc các nhân viên cảnh sát cần mẫn im lặng quan sát đám đông. 

Quan chức địa phương chỉ đến trong chốc lát để phát biểu chào mừng hoặc động viên những người tổ chức, điều hành lễ hội, bắt tay, cúi đầu chào người dân sau đó lại trở về nơi làm việc hoặc đi làm các công việc quan trọng khác trong phận sự của họ. 

Việt Nam muốn lễ hội lấy lại được không khí trang nghiêm và văn minh thì sớm muộn phải dân chủ hóa trong tư duy và cách thức tổ chức lễ hội. Trung tâm của công việc đó là thừa nhận và đảm bảo vai trò của người dân địa phương. Một lực lượng tình nguyện viên lớn, đầy lòng nhiệt tình và tinh thần cống hiến sẽ sẵn sàng làm tất cả mọi việc trong lễ hội ấy mà không cần đòi hỏi thù lao.


Ở Nhật Bản, không chỉ người dân địa phương mà cả du học sinh, người nước ngoài đều có thể đăng ký và tham gia các rất nhiều công việc, nghi lễ của lễ hội. Tính chất dân chủ và đại chúng đó đã làm nên thành công của họ. 

Nhìn ở góc độ hẹp hơn, những cách thức thực thi có tính chất kĩ thuật  trong các lễ hội ở Việt Nam cũng cần phải sớm được cải thiện. 

Chẳng hạn khi “phát lộc”, tại sao lại tiến hành dưới hình thức một người đứng trên bục cao rồi vứt “lộc” ra giữa đám đông đang háo hức đợi chờ? Đây là cách làm dễ tạo ra hiệu ứng đám đông đầy kích động và không đảm bảo được yếu tố an toàn. Hơn nữa, nhìn ở góc độ nào đó sẽ cảm thấy có chút gì đó rất phản cảm. 

Tại sao lại cho phép một đám đông khổng lồ với số lượng cá nhân lớn gấp nhiều lần xông vào tranh cướp một số lượng “lộc” có hạn trong một không gian chật hẹp và không hề được bố trí có cân nhắc đến an toàn? 

Để cải thiện, cần nghĩ đến cách làm sao cho ai có nhu cầu đều có “lộc”. Không cần thiết “lộc” đó phải miễn phí vì sẽ rất khó và lãng phí khi phải bỏ công quỹ ra để chuẩn bị một số lượng “lộc” lớn đến như thế. Thay vào đó nên sử dụng cơ chế “cúng tiền nhận lộc”. Số tiền đó có thể chỉ cần là số tiền mua chính phần “lộc” mà người dân nhận được. Phần gói ghém, chuẩn bị lộc có thể sử dụng các tình nguyện viên để làm vì không tốn tiền công. Khi làm như thế, số lượng “lộc” sẽ không hạn chế mà đáp ứng được tất cả những ai có nhu cầu. 


Thay vì phát “lộc” bằng cách tung, vứt tùy hứng vào đám đông nên hướng dẫn người dân xếp hàng theo thứ tự để cúng tiền và nhận lộc. Khi biết ai cũng có phần người dân sẽ không cần phải ào ào tranh cướp. Cách làm như hiện tại tạo ra sự tranh cướp vì người dân thừa biết, không nhanh sẽ chẳng có phần. 

Ở chùa Vàng, ngôi chùa nổi tiếng ở Kyoto (Nhật Bản), người ta thiết kế chiếc vé vào cửa thành chính chiếc “ấn” hay lá bùa phù hộ. Khách đến tham quan, xếp hàng mua vé thì được nhận luôn tấm vé có đóng dấu của chùa. Sau buổi tham quan khách có thể mang nó về nhà như một tấm bùa phù hộ. Ở các đền chùa khác, người Nhật cũng bán những miếng gỗ nhỏ gọi là Ema với giá vài trăm yên (vài chục nghìn đồng tiền Việt) để khách có thể mua miếng gỗ nay và ghi lên đó ước nguyện của mình. Những miếng Ema đó sau khi làm lễ sẽ được treo lên ở một vị trí nào đó ở trong đền, chùa. 

Người ta sẽ không đợi nếu biết rằng thứ tự được quyết định không đựa trên lẽ công bằng hoặc món đồ có thể nhận là có hạn. Nếu thay đổi tư duy và cách làm, nạn cướp “lộc” chắc chắn sẽ không còn thì người dân không còn động cơ để…cướp. 

Không hiểu sao, mỗi khi nhìn thấy cảnh cướp “lộc” trong các lễ hội ở quê hương, lòng tôi lại buồn thương khó tả. Giả sử như tôi là người quyền tổ chức lễ hội nào đó có màn “cướp lộc” thì thay vì món đồ được dùng làm “lộc” truyền thống, tôi sẽ thay vào đó là những cuốn sách bổ ích về giáo dục, môi trường, văn hóa, các giá trị nhân văn phổ quát…. Trên những cuốn sách ấy sẽ có đóng dấu của ban tổ chức hay ngôi chùa nơi diễn ra lễ hội. 

Cách làm ấy chưa từng có trong truyền thống nhưng tôi nghĩ chắc chắn các vị thần linh nước Việt và tổ tiên sẽ không trách phạt mà sẽ cảm thấy hài lòng. Đơn giản vì khát vọng để nước Việt ngày một dân chủ, giàu có, văn minh để người Việt có cuộc sống ngày một hạnh phúc hơn là ước nguyện chung của tất cả mọi người và cũng là điều mà các vị thần linh, tổ tiên ngàn đời mong mỏi.