Người Việt Nam có gì đặc biệt?

nguoi-viet-nam-co-gi-dac-biet

Mặc dù chịu ảnh hưởng rất lớn của văn hóa Hán sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, nhưng nền văn hóa của dân tộc ta vẫn khác hẳn. Năm 1428, Bình Ngô Đại cáo tuyên bố: « Như nước Đại Việt ta từ trước, Vốn xưng nền văn hiến đã lâu, Núi sông bờ cõi đã chia, Phong tục Bắc Nam cũng khác… »  

Điểm nổi bật nhất là sự khác biệt về văn hóa chính trị: Người Việt Nam coi độc lập dân tộc là lẽ sống cao nhất; dù bị nước ngoài chiếm đóng cai trị nhưng dân tộc ta xưa nay chưa một ngày ngừng đấu tranh giành độc lập và chống đồng hóa. Ý thức độc lập dân tộc trở thành một truyền thống. Nhờ tổ tiên ta kiên trì đấu tranh giành độc lập mà chúng ta không bị người Hán, người Pháp đồng hóa, cuối cùng vẫn ngẩng mặt hiên ngang là một quốc gia đứng trong top 15 quốc gia đông dân. Dĩ nhiên cái giá phải trả quá lớn.

Việt Nam giành và giữ được độc lập cũng nhờ thiên nhiên ban cho chúng ta một mảnh đất độc đáo, được bao bọc bởi những rào chắn trời cho: núi và biển. Và ở rất xa cường quốc phương bắc có truyền thống "chinh phục, thống nhất thiên hạ". 

Thời xưa các vương triều TQ cử quan lại sang VN đều chọn lũ quan bị mất chức, bị tù tội, chứ quan lại đương chức rất sợ sang VN. Nóng, ẩm, muỗi, bệnh nhiệt đới.... giết chết nhiều lính Tàu. Quan lại TQ sang VN đều biết không còn đường về, nên đều an cư lạc nghiệp tại VN, lấy vợ VN, nói tiếng VN, bị người VN đồng hóa tuốt. Và trở nên chống mẫu quốc hơn ai hết. Dân mạng TQ ngày nay nói: Sở dĩ TQ không chiếm và đồng hóa được VN vì VN ở quá xa chính quyền trung ương TQ.

Trong hơn 1000 năm là quận huyện của TQ, dân ta đều coi các vương triều TQ chiếm đóng, cai trị Việt Nam là vương triều của kẻ xâm lược, là chính quyền của kẻ địch, dân ta luôn chống lại sự cai trị và đồng hóa của chúng. Quan điểm đó hoàn toàn chính nghĩa.  Triệu Đà người Hán quê Hà Bắc, xa Việt Nam hàng nghìn dặm vô cớ đem quân đánh chiếm nước ta đang sống trong hòa bình, gây ra cảnh chết chóc tàn phá đau thương, rõ ràng là kẻ xâm lược. Vả lại triều đình nước Nam Việt của Triệu Đà đóng đô tại TQ (Quảng Châu), toàn bộ quan lại, quân đội đều là người TQ, quan quân cai trị Việt Nam cũng đều là người TQ; sao có thể coi nhà Triệu là vương triều khai quốc của Việt Nam? 

Với quan điểm coi chính quyền chiếm đóng là kẻ địch, tổ tiên ta, kể cả phụ nữ, đã không ngừng nổi dậy đánh đuổi giặc xâm lược. Thời Bắc thuộc hoặc Pháp thuộc cũng vậy. Hai Bà Trưng (năm 40), Bà Triệu (năm 248), ... Khúc Thừa Dụ (năm 905) và kết thúc bằng chiến thắng giành độc lập của Ngô Quyền (năm 938). 

Gần đây có sử gia TQ nói Mã Viện diệt khởi nghĩa Hai Bà Trưng là « công việc nội bộ » TQ, tương tự như việc đàn áp mọi cuộc khởi nghĩa của nông dân TQ chống vương triều trung ương, không thể gọi là xâm lược. Thật vô lý. Dân tộc chúng ta đang sống trong hòa bình bỗng dưng bị bọn người phương bắc vô cớ cậy binh hùng tướng mạnh đem quân đánh chiếm nước ta rồi sáp nhập làm quận huyện của TQ. Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc chiếm đóng là chính nghĩa. Mã Viện cậy quân đông đánh chiếm nước ta, rõ ràng là xâm lược. 

Đặc biệt hơn cả là, mặc dù bị chính quyền cai trị ép phải học và dùng chữ Hán suốt cả nghìn năm nhưng do hiểu rõ nguy cơ để mất tiếng mẹ đẻ thì sẽ để mất nòi giống dân tộc mình nên tổ tiên ta đã tìm mọi cách giữ nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ cùng phong tục tập quán, nhờ thế dân tộc ta vẫn không bị đồng hóa. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong toàn bộ lịch sử nước Việt. Sau này dưới thời thuộc Pháp, nhân dân ta cũng đấu tranh thắng lợi đòi thực dân Pháp bãi bỏ chế độ bắt người Việt phải học tiếng Pháp ngay từ bậc tiểu học. Nhờ vậy dân ta vẫn nói tiếng Việt mà không nói tiếng Pháp như các thuộc địa Pháp ở châu Phi. Rõ ràng người Việt Nam có ý thức độc lập dân tộc khác với người Bách Việt. 

Lịch sử cho thấy các tộc Bách Việt như Ngô Việt, Mân Việt…đều khá nhanh chóng chấp nhận sự chiếm đóng, cai trị và đồng hóa của dân tộc Hán. Riêng người Lạc Việt có đánh trả quân nhà Tần và lánh về vùng núi Quảng Tây, nhờ vậy giữ được tiếng nói và phong tục, nhưng từ đó họ không dám khởi nghĩa chống lại người Hán chiếm đóng. Ngày nay họ làm nên dân tộc thiểu số đông người nhất ở TQ, sống trong khu vực được chính quyền của người Hán khoanh vùng cho ở, gọi là Khu tự trị dân tộc Tráng Quảng Tây,  chứ đâu có được là 1 quốc gia có vị trí quốc tế như Việt Nam ta. 

Ngay cả dân tộc Hán đông nhất thế giới thời xưa khi bị ngoại tộc (Mông tộc, Mãn tộc…) xâm lược cũng chịu đầu hàng, để cho kẻ xâm lược cai trị hàng trăm năm mà không vùng lên đánh đuổi; giới tinh hoa người Hán ngoan ngoãn làm tôi tớ cho vua chúa ngoại tộc, coi chúng là chủ nhân đất nước mình, tình nguyện giúp chúng đàn áp bóc lột chính đồng bào mình, ép buộc họ phải theo văn hóa ngoại tộc. Thời Mãn Thanh, đàn ông TQ đều phải để đuôi sam theo kiểu tóc của tộc Mãn, các triều thần phải khúm núm tự xưng là « nô tài » trước nhà vua người Mãn; chính quyền TQ thời kỳ đầu còn bỏ chữ Hán chỉ dùng chữ Mãn. Hán tộc cũng như các tộc Bách Việt đều coi nhà Nguyên và nhà Thanh là hai vương triều của nước mình, tuy thực ra đó chỉ là vương triều thực dân. Họ còn coi hoàng đế Thành Cát Tư Hãn của đế quốc Mông Cổ là anh hùng, coi Khang Hy là minh quân của người TQ.  

Từ những khác biệt nhiều mặt kể trên, có thể giả thiết người Việt Nam không phải là người phương bắc di cư xuống, mà thời nguyên thủy họ từ châu Phi di cư tới, sống trong các hang động vùng phía tây giải đất chữ S từ Sơn La, Hòa Bình tới Quảng Bình (tương tự người Mường)... sau đó dần dần tiến xuống phía đông cùng với sự hạ thấp mực nước biển và sự bồi đắp phù sa của các dòng sông chảy ra Biển Đông.