Tương lai của người nhập cư

nguoi-nhap-cu

Một số nước châu Âu từng thắt chặt kiểm soát biên giới, khiến hàng nghìn di dân bị mắc kẹt ở Hy Lạp.

Lịch sử của loài người thoát khỏi tình trạng dã man là lịch sử của định cư. Nhưng lịch sử của va đập văn minh lại là lịch sử di cư.

Một quần thể định cư không chỉ xây nhà mà còn xây dựng cả cộng đồng và không gian sống. Cộng đồng lớn nhất là một nước hay quốc gia.

Quốc gia nào cũng có sự dè chừng với người nhập cư. Thứ nhất vì họ khác biệt. Thứ hai vì họ có thể chia sẻ mất nguồn lực sống của cư dân bản địa.

Chống lại sự khác biệt như là bản tính của con người. Bản tính đó được điều chỉnh tốt nhất bằng thương mại. Người nông dân trồng lúa sẽ ghét người nông dân nuôi tằm ở làng bên vì họ làm việc và sống khác mình. Nhưng nhờ trao đổi sản phẩm với nhau, họ không còn ghét nhau nữa. Chứ hai ông chỉ có lúa thì trao đổi với nhau ích gì!

Đó là lý do ở nơi đâu có giao thương, ở đó dễ chấp nhận sự khác biệt hơn. Nên người Nam kỳ nhìn thấy tây đen hay tây trắng cũng không chỉ trỏ, nhìn thấy một cô gái mặc quần hở cả bẹn cũng không bình phẩm, phán xét như người Bắc kỳ, vì xứ Bắc kỳ khép kín cả ngàn năm đến tận làng. 

Cũng không hẳn là Bắc kỳ không ưa giao thương (dù văn hóa Nho giáo đúng là có đóng góp vào việc hạn chế giao thương), mà chủ yếu vì vị trí địa lý của nó khiến chả ma nào chịu đến giao thương. (Tớ nói cho các cậu biết, để các cậu đừng chửi mỗi khi tớ dùng tập quán Bắc kỳ để phán xét các cậu, hehe).

Chia sẻ nguồn lực còn là vấn đề lớn hơn, một khi nguồn lực đó là hữu hạn. Nguồn lực đất canh tác với nông nghiệp hay đất đồng cỏ với chăn nuôi luôn là hữu hạn. Chả ai dở hơi đem đất mình đang trồng lúa chia cho người khác, nếu không phải là vì kẻ xâm lược mạnh hơn, hoặc phải giao nộp cho đảng và nhà nước để chia lại, hehe. 

Vì đây là chủ đề về người nhập cư, nên chúng ta không bàn đến trường hợp kẻ xâm lược.

Vậy khi nào thì người nhập cư được chào đón? Trước tiên, họ phải không đe dọa đến quốc gia, hay xâm phạm vào nguồn lực hạn chế mà chúng ta vừa nói. 

Với lý do thứ nhất, người nhập cư đến từ các quốc gia thù địch luôn không được chào đón, trừ khi đó là nạn dân bị truy bức trong các cuộc chiến tranh hoặc tranh giành quyền lực.

Với lý do thứ hai, người nhập cư phải không cạnh tranh về nguồn lực với cư dân sở tại. Thương mại, nhất là ngoại thương, thường là không cạnh tranh về nguồn lực (lại là thương mại!). Ông trồng lúa, tôi mang vàng bạc hoặc vải vóc đến đổi thì hại gì ông! 

Trường hợp khác là mang một ngành nghề mới đến. Ông trồng lúa cứ trồng lúa, còn tôi đến để rèn cuốc bán cho ông. Nếu vẫn có chung phương thức sống với dân bản địa, thì dân nhập cư phải khai phá được các nguồn lực mới, mà thường là với kỹ thuật khai thác và tổ chức tốt hơn. Như các chúa Nguyễn “ban” cho những người Minh Hương được khai thác đất của… Thủy Chân Lạp.

Kẻ nhập cư cũng vì lợi mà đến. Nơi chứa chấp họ cũng vì lợi mà nhận. Nói chuyện đạo đức mịa gì ở đây!

Nhưng có những kẻ sẽ bày đặt ra đạo đức học của việc di cư – nhập cư. Tất cả các đế quốc đều có tham vọng mở rộng lãnh thổ và dân số, và nền tảng đạo đức học cơ bản của quá trình bành trướng là “khai hóa”, có thể với một khái niệm khác gần giống. Người Tàu với ta cũng thế, mà người Pháp với ta cũng vậy.

Các lãnh thổ và dân chúng ở các vùng mới hiển nhiên sẽ khác biệt với vùng trung tâm của đế quốc. Vì thế mà các đế quốc đều có lý luận về tôn trọng sự khác biệt.

Người Tàu ở trong nước thì không phân biệt tôn giáo Nho, Phật, Lão, còn ra ngoài thì rộng lượng với tứ di (còn rộng lượng hơn cả với dân Tàu), chỉ cần biết thờ thiên tử thì đều được thiên tử “che chở” (mới có chuyện mỗi khi một triều đại An Nam sụp đổ, sang cầu cứu thiên triều thì đều được phát binh cứu). Còn cứu xong có trả lại nước không thì… tùy.

Người Pháp thì luôn miệng nói bình đẳng bác ái. Nhưng không làm việc như nô lệ cho nó thì nó lấy roi da quật vào đít còn dã man hơn thợ cày quật roi vào đít thúc trâu kéo cày.

Vì thế, những thứ đạo đức học của bọn đế quốc thực dân chỉ là luận điệu thôi. Ngu gì mà tin. Bạn cứ đến các nước văn minh có luật lệ chống phân biệt chủng tộc khắt khe nhất, xòe tấm hộ chiếu Việt Nam, bỏ khẩu trang ra để nó nhận ra mình là da vàng mũi tẹt, nó lại chả ném vào mặt bạn cái nhìn soi mói và khinh miệt như thể bạn mới từ trong rừng chui ra.

Khi chủ nghĩa đế quốc, thực dân hết chỗ đứng, trớ trêu thay cái thứ lý luận về bình đẳng, bác ái, chống phân biệt chủng tộc, đề cao văn hóa đa sắc tộc lại trở thành sợi dây níu giữ quan hệ giữa các nước cựu thực dân với cựu thuộc địa, để duy trì và tăng cường quan hệ thương mại. 

Thương mại về lý thuyết làm cho tất cả đều có lợi. Nhưng quan hệ thương mại giữa kẻ bán iPhone và kẻ bán thóc thì kẻ bán iPhone luôn ở vị thế bề trên, có lợi hơn nhiều. Vì có hàng ngàn kẻ bán thóc muốn bán thóc cho bọn sở hữu iPhone. Còn kẻ bán iPhone có chăng chỉ chịu chút áp lực từ Samsung để giành quyền bán smartphone cao cấp cho bọn bán thóc.

Ngoài lý do thương mại, lý do cầu về lao động ở các nước phát triển cũng củng cố vai trò luận điệu của đạo đức học của chủ nghĩa bác ái. 

Khi xã hội phát triển, trình độ lao động tăng cao dẫn đến thiếu hụt lao động bậc thấp. Thu nhập bình quân tăng cao, độ bình đẳng cũng tăng cao, khiến cho ngay cả những lao động bậc thấp cũng đòi được trả mức lương khá cao. 

Người nhập cư từ các nước kém phát triển hơn giúp tư bản phương Tây giải quyết bài toán đó: bổ sung người lao động bậc thấp, với mức lương thấp hơn, mà vẫn mang lại sự thỏa mãn cho họ vì cao hơn nhiều so với họ đã nhận được ở quê hương. Tình trạng này phổ biến ở châu Âu. Những nước thực dân cũ có mối quan hệ lịch sử với các thuộc địa và có địa lý gần gũi với các thuộc địa cũ như Pháp càng phổ biến tình trạng này.

Đến lúc này thì những luận điệu thường chỉ để rót vào tai các thuộc địa để bảo vệ tính chính danh của đế quốc, thực dân, nay quay lại rót luôn vào tai cư dân mẫu quốc để chúng chào đón bọn chả giống với mình đến nước mình sinh sống. Từ luận điệu, dần dần cả xã hội tưởng thật, và coi như các giá trị văn hóa, đạo đức cao cả.

Việc người nhập cư chỉ thật sự được chào đón ở giai đoạn đầu, khi nó bổ sung lao động bậc thấp mà xã hội đó còn thiếu hụt. Các lao động này đến ở thời kỳ đầu cũng nhanh chóng bị sức mạnh thể chế và văn hóa của nước sở tại thuần hóa. Tức là họ mang đến lợi ích kinh tế, không mang đến sự cạnh tranh với người bản địa, và không tạo ra xung đột văn hóa do bị thuần hóa.

Nhưng nó trở thành vấn đề ở thế hệ kế tiếp. Khi nguồn lao động nhập cư vượt quá mức bổ sung sự thiếu hụt, nó sẽ trở thành lực lượng cạnh tranh với lao động bậc thấp của nước sở tại. Mà tốc độ nhập cư thì không chỉ tăng dần đều theo cấp số cộng, mà theo cấp số nhân. Một người nhập cư thành công sẽ kéo dần cả gia đình họ, có khi họ hàng, bạn bè của họ, gia nhập vào lực lượng nhập cư. 

Khi hiện tượng di cư theo bầy đàn xuất hiện, chúng sẽ mang theo văn hóa của mình tới nơi nhập cư. Và cuộc xung đột văn hóa xuất hiện, ẩn dưới màu da, tôn giáo của những kẻ nhập cư khác với dân sở tại. Cậu bạn mình ở Pháp nói ra ngoại ô Paris như thể đến châu Phi hay một nước Hồi giáo nào đó. Những đặc tính Pháp không còn nữa.

Thực tế đó gợi lại sự kỳ thị chủng tộc, văn hóa, và chủ nghĩa cực hữu. 

Nhờ sự phổ biến của mạng xã hội, những tờ báo chuẩn mực và trách nhiệm có ý thức cân bằng giữa lý tưởng và thực tế đã bị đè bẹp bởi những bloggers, Facebookers không cần điều đó mà giỏi vuốt ve cảm xúc thích thú của bạn đọc. Cảm xúc nhờ thế cũng lấn át lý trí, và những kẻ cực hữu lên cầm quyền.

Và các xã hội châu Âu sẽ lĩnh đủ. Thứ đạo đức học giả dối dùng làm luận điệu để bảo vệ lợi ích của đế quốc, của tư bản giờ đây bị thách thức trước thực tế khắc nghiệt mà người nhập cư mang đến theo bầy đàn của họ. 

Nền dân chủ và mạng xã hội càng khiến cho sự xung đột đó được phơi bày, và áp lực trực tiếp của chúng khiến mọi chính sách dài hạn đều không có đất sống. Lại thêm sự tồn tại của Liên minh châu Âu EU với thị trường lao động thống nhất và tự do, mọi chính sách quốc gia đối với người nhập cư đều sẽ bế tắc.

Nên người Anh rời khỏi châu Âu sẽ chỉ tạo ra một sự hối tiếc trong ngắn hạn. Rồi họ sẽ hết hối tiếc khi nhìn châu Âu suy sụp. Người Nga sẽ nhìn sang châu Âu cười khẩy. Người Mỹ sẽ bối rối. Nhưng đế quốc Hán thì xoa tay mãn nguyện. Năm mươi năm có thể là lời phán xét vội vã của một gã Bắc kỳ. Nhưng chắc chả đến một trăm năm đâu.

Gã Bắc kỳ này, vì thế, chắc chắn sẽ không hướng con mình di cư tới châu Âu.

(Tớ biết bạn sẽ cười khẩy một gã vớ vẩn ở thế giới thứ ba đi dự báo về tương lai suy tàn của trung tâm của văn minh nhân loại, hiển nhiên rồi)

Sài Gòn 23/7/2018