Mở cửa thị trường điện cho cạnh tranh nhưng không phải để giảm giá bán

mo-cua-thi-truong-dien-cho-canh-tranh-nhung-khong-phai-de-giam-gia-ban

Nhiều người có tiếng nói mấy ngày qua đề xuất giải pháp giảm giá điện là phải mở cửa thị trường cho cạnh tranh. Nhưng nếu chịu khó tìm hiểu thị trường điện của những nước đã đi theo con đường này bạn sẽ thấy bức tranh giá điện phức tạp hơn nhiều so với những gì những người sùng bái thị trường tự do cố súy: cứ có cạnh tranh là giá sẽ giảm.

1.

Đồ thị bên dưới (*) so sánh giá điện bán lẻ cho hộ tiêu dùng ở 4 thành phố lớn của Úc trước và sau khi thị trường này được mở cửa khoảng 20 năm trước. Từ chỗ toàn bộ hệ thống điện do chính quyền các bang xây dựng, sở hữu, vận hành, ngày nay phân khúc phát điện và bán lẻ cho người tiêu dùng cuối cùng đã hoàn toàn cạnh tranh, nhà nước chỉ còn nắm hệ thống chuyển tải. 

(*): Nguồn: Karmel, Felix, 2018, Deregulation and Reform of the Electricity Industry in Australia: Lessons for Japan?

Trong lĩnh vực bán lẻ riêng bang Queensland chỗ tôi có không ít hơn 20 công ty ra sức mời chào các hộ gia đình chuyển sang mua điện của họ, từ gọi điện đến nhà, chặn lại quảng cáo ở siêu thị, đến tận nhà gõ cửa hay gửi spam mails.

Tuy nhiên ngược với mong đợi của những kiến trúc sư của thị trường điện tự do (chính phủ Paul Keating và John Howard) giá điện bán lẻ không hề giảm mà đã tăng phi mã. Đến mức cách đây 2 năm chính phủ của Malcolm Turnbull buộc phải đưa lên bàn nghị sự một chương trình mới với tên gọi National Energy Guarantee mà về bản chất là siết lại thị trường năng lượng nói riêng và thị trường điện nói chung. Vậy là sau một giai đoạn hưng phấn với deregulation trên thị trường điện, nước Úc đang loay hoay re-regulate lại thị trường này.

Vậy tại sao thị trường cạnh tranh tự do không dẫn tới giảm giá như các nhà kinh tế khuyến cáo? Có rất nhiều nguyên nhân nhưng quan trọng nhất là: (i) đặc thù của thị trường điện, (ii) tác động của các chính sách bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu, (iii) sự gia tăng các nguồn năng lượng tái tạo mới (mặt trời, gió) có công suất không ổn định (intermittent). 

Tôi sẽ phân tích từ từ các vấn đề này trong các phần tiếp theo. Nhưng trước khi viết tiếp tôi xin nói rõ quan điểm cá nhân (từ nhiều năm qua) là thị trường điện VN cần được mở cho cạnh tranh và giá điện ở VN cần phải tăng. Tôi sẽ giải thích quan điểm của tôi vào cuối bài.

2.

Các "chuyên gia" khi nói về tính đặc thù của thị trường điện thường hay nói điện là một loại hàng hóa đặc biệt vì nó không lưu giữ được (mostly), làm ra là phải tiêu thụ ngay. Nói thế không sai nhưng không lột tả được hết đặc thù của loại hàng hóa này.

Trước hết cần phải làm rõ cái mà chúng ta tiêu thụ hàng ngày chủ yếu là "năng lượng" chứ không phải "điện" (tất nhiên có ngoại lệ như các thiết bị điện tử và trong một số ngành sản xuất). Chúng ta tiêu thụ "nhiệt năng" (vd bếp điện, bình nước nóng), "động năng" (tủ lạnh, điều hòa, máy giặt). Chiếu sáng trước đây cũng là nhiệt năng, chỉ từ khi xuất hiện bóng đèn huynh quang và gần đây là đèn LED thì ánh sáng mới được chuyển hóa trực tiếp từ điện năng. Bỏ qua phần điện năng mà chúng ta tiêu thụ trực tiếp, điện chỉ là một trung gian giúp truyền tải năng lượng từ xa đến các hộ gia đình một cách an toàn, hiệu quả, sạch sẽ và chuẩn hóa (tôi sẽ nói thêm về vấn đề chuẩn hóa/standardized bên dưới).

Một hệ thống điện có thể chia làm 3 phần: (i) upstream bao gồm các nhà máy phát điện và thị trường bán buôn, (ii) midstream bao gồm hệ thống truyền tải (transmission) và phân phối (distribution), (iii) downstream là dịch vụ bán lẻ điện đến người tiêu dùng cuối cùng (ở đây tôi sẽ nói chủ yếu tới các hộ gia đình, các doanh nghiệp sử dụng điện có đặc thù riêng). Phân đoạn upstream có chức năng chuyển hóa các loại năng lượng sơ cấp (primary energy) thành điện năng, vd thế năng (thủy điện), động năng (gió, thủy triều), nhiệt năng (than, dầu, khí), hạt nhân và mặt trời. Phần upstream có cấu trúc gần giống nhất với một thị trường hàng hóa truyền thống nên hầu hết các nước khi mở cửa thị trường điện đều bắt đầu ở phân khúc này, kể cả VN.

Một điều thú vị là vào cuối thế kỷ 19 khi một số nước tiên phong phát triển ngành công nghiệp điện thì hầu hết hệ thống điện là của tư nhân. Cuộc chiến giữa Thomas Edison và Nicolas Tesla là một minh chứng. Ở Úc các nhà máy phát điện đầu tiên xuất hiện vào khoảng 1880 cũng của tư nhân, chạy than ở Victoria, NSW, thủy điện ở Tasmania. Lúc đó các công ty phát điện kiêm luôn mid- và downstream vì qui mô thị trường rất nhỏ, chủ yếu phục vụ cho một vài tòa nhà.

[Ngoài lề: một số thành phố lớn trên thế giới vẫn còn vết tích các nhà máy điện thời đó, nằm ngay trong trung tâm thành phố như ở midtown Manhattan. Cách trung tâm Brisbane chưa đến 3km còn một tòa nhà gọi là Powerhouse cũng là nhà máy phát điện cũ, bây giờ trở thành một trung tâm văn hóa nghệ thuật kiểu như Zone 9 trước đây ở HN].

Nhưng không lâu sau đó hệ thống điện nhanh chóng bị quốc hữu hóa thành tài sản của nhà nước (ở Úc là của các chính quyền bang) vì hai lý do. Thứ nhất thời gian đầu (cuối thế kỷ 19) nhu cầu điện năng chủ yếu tư khu vực công cho việc chiếu sáng đường phố và giao thông công cộng (tàu điện). Vì là dịch vụ công nên nhà nước sở hữu và quản lý hợp lý hơn (ít nhất theo quan điểm thời đó) do không phải chạy theo lợi nhuận.

Thứ hai khi nhu cầu điện tăng lên xuất hiện nhu cầu dịch chuyển các nhà máy điện ra xa gần với các nguồn primary energy lớn (đập nước, mỏ than). Điều này đòi hỏi phải xây dựng các đường truyền tải công suất lớn từ nhà máy đến các thành phố là thị trường tiêu thụ chính. Đường truyền tải có tính chất natural monopoly, nghĩa là giữa 2 điểm chỉ cần một đường truyền chứ không nên có 2-3 đường cạnh tranh với nhau. Natural monopoly chính là lý do các nhà kinh tế (trước đây) chấp nhận sở hữu nhà nước trong một nền kinh tế thị trường.

Một hệ quả nữa khi nhu cầu điện gia tăng là việc phải chuẩn hóa về mặt kỹ thuật hệ thống và các thiết bị điện. Từ hiệu điện thế (110 vs 220V), tần số (50 vs 60Hz), đến vô số các chi tiết khác như hình thức ổ cắm điện, tiết diện dây dẫn, cầu chì, tiếp đất... Vấn đề chuẩn hóa này sẽ dễ dàng hơn (nhưng không bắt buộc) khi hệ thống điện không bị quá manh mún. [Ngoài lề: bang Tây Úc đã suýt nữa áp dụng tần số 40Hz để phục vụ cho một dự án electric train lớn năm 1913. May mà dự án này bị đình trệ nên cuối cùng Tây Úc chuyển về chuẩn 50Hz].

3.

Vấn đề nhà nước sở hữu và vận hành hệ thống điện càng trở nên hiển nhiên trong giai đoạn Thế chiến thứ 2 khi nhiều nước phải ration tiêu dùng trong đó có điện để tập trung tài nguyên phục vụ chiến tranh. Sau thế chiến nhu cầu xây dựng các nhà máy điện lớn (ở Úc là hệ thống thủy điện Snowy Mountain từ năm 1949) và các đường truyền dài đòi hỏi nguồn lực nhà nước và nhất là khả năng hoạch định rất dài hạn cho mạng lưới điện.

Như đã đề cập ở trên, các nhà máy điện cần/nên được qui hoạch ở các địa điểm gần nguồn primary energy lớn. Nhưng không chỉ có vậy, hệ thống phát điện phải đi đôi với đường truyền có công suất tương ứng, quá nhiều nhà máy tập trung ở một vùng xa xôi mà đường truyền không đủ công suất dẫn điện ra sẽ rất lãng phí. Ngoài ra vấn đề an ninh năng lượng và an ninh quốc gia cũng phải tính tới. Khi cố thủ tướng Võ Văn Kiệt kiên quyết cho xây đường dây 500KV Bắc-Nam nhu cầu kinh tế chưa hẳn là quyết định. Hay cuộc tranh luận có nên xây thủy điện Sơn La quá gần biên giới Việt-Trung hay không cũng là ví dụ cho thấy cấu trúc thị trường này đòi hỏi những tính toán vượt qua yêu cầu thương mại.

Nhưng ngay cả nếu chỉ xét yếu tố thương mại, một tính chất đặc thù khác cũng đòi hỏi nhu cầu kế hoạch hóa nhiều khi vượt qua khả năng của "bàn tay vô hình". Đó là tính seasonality (tính mùa vụ) rất mạnh trong thị trường này. Seasonality không chỉ giữa các mùa trong năm mà còn tùy vào thời điểm trong ngày nhu cầu điện thay đổi rất mạnh. Đồ thị bên dưới (nguồn: AEMC, Spot and Contract Markets) biểu diễn nhu cầu điện của bang NSW Úc và giá điện bán sỉ trên thị trường spot vào ngày 18/9/2018. Tháng 9 là mùa xuân ở Úc nên nhu cầu máy lạnh và lò sưởi không cao nhưng đã đủ để đỉnh và đáy của demand chênh nhau hơn 50% trong 1 ngày. Dẫu vậy giá giao ngay trong ngày hôm đó có lúc tăng hơn 3 lần so với đáy.

Sở dĩ giá sỉ biến động như vậy vì một đặc thù của hệ thống phát điện mà có thể bạn đã biết. Thông thường hệ thống phát điện (upstream) sẽ bao gồm môt số nhà máy chạy liên tục 24/24 cung cấp base load và một số nhà máy chỉ phát điện lên lưới khi nhu cầu tăng cao (peak load). Nhóm chạy base load (điện than, điện hạt nhân) có average price rẻ hơn nhưng khó hoặc không thể tăng giảm công suất phát khi demand thay đổi trong ngày. Ngược lại nhóm chạy peak load có giá thành cao hơn (không chỉ marginal cost mà cả average cost) nhưng có thể tắt bật/tăng giảm công suất dưới 30 phút.

Khi demand tăng cao đột biến nhóm chạy peak load có thể tăng giá rất cao vì chỉ có họ mới kịp đáp ứng demand (cho nên asking price cao hơn rất nhiều marginal cost). Ở chiều ngược lại khi demand sụt giảm bất ngờ chỉ có họ mới có thể rút supply ra đủ nhanh nên trên thị trường bán sỉ điện của Úc có lúc giá tụt xuống dưới không (giá âm). Trên thị trường này giá có thể dao động từ -1000 đến 14500 AUD/MWh, mức dao động trong đồ thị bên dưới chưa là gì.

Tôi sẽ viết thêm về vấn đề trading trên thị trường bán sỉ sau, ở đây tôi muốn quay lại điểm vì tính chất seasonality nên thị trường điện cần phải được hoạch định (trong ngày) rất cụ thể. Cụm nhà máy nào chạy base load, các nhà máy peak load sẽ được bật lên tuần tự ra sao, khi một nhà máy phải dừng để bảo trì thì ai sẽ thay thế... Khi hệ thống điện hoàn toàn do nhà nước sở hữu và vận hành vấn đề tối ưu hóa này (dù phức tạp) có thể đạt được.

Sau khi mở cửa upstream cho cạnh tranh, với tín hiệu giá biến động quá mạnh như đã nói bên trên, hệ thống điện vẫn không thể xóa bỏ hoàn toàn việc planning vận hành. Ở Úc việc planning này do AEMO quản lý, đó là một cơ quan nhà nước dù độc lập với chính phủ. [Ngoài lề: Chính xác hơn AEMO do COAG lập ra, mà COAG là một cơ quan "siêu nhà nước" bao gồm chính phủ liên bang và chính quyền các tiểu bang. Hệ thống chính trị Úc đặt chính phủ liên bang và các tiểu bang ngang hàng về nhiều mặt. Họ phải thông qua COAG để thỏa thuận nhiều vấn đề.]

4.

Như đã đề cập đến bên trên cho đến cuối thập kỷ 1980 hệ thống điện của Úc hoàn toàn do nhà nước (các bang) sở hữu và vận hành. Paul Keating khi còn là bộ trưởng Bộ Tài chính (Treasury), có lẽ do ảnh hưởng của trào lưu privatization của Margaret Thatcher và Ronald Reagan, bắt đầu tính đến việc cải tổ và mở cửa thị trường điện của Úc vào năm 1991. Về cơ bản quá trình này gồm 3 bước: (i) các bang cổ phần hóa dần các nhà máy phát điện của mình (riêng Snowy Hydro của liên bang trầy trật mãi không cổ phần hóa được vì các lý do chính trị), (ii) xây dựng một thị trường điện quốc gia (giữa các bang) và thị trường bán sỉ, (iii) mở cửa thị trường bán lẻ.

Kế hoạch deregulation/privatization này của Paul Keating tất nhiên được phe conservative ủng hộ và tiếp nối dưới thời John Howard. Về cơ bản hệ thống điện quốc gia (NEM) hoàn thành vào cuối năm 1998, thị trường bán lẻ tuần tự mở ra ở các bang trong khoảng 2000-2008. Tôi còn nhớ thời năm 2000 khi còn là sinh viên một giáo sư của tôi rất lạc quan về chính sách mở cửa thị trường điện này của chính phủ Úc, tin rằng giá điện sẽ giảm.

Tạm thời chưa nói đến giá bán lẻ, tác động của cạnh tranh trong thị trường bán sỉ có thể nói không đáng kể. Đồ thị bên dưới (nguồn: Karmel 2018) cho thấy sau khi NEM hoạt động giá sỉ (trung bình năm) không giảm mà có xu hướng tăng (ngoại trừ giá ở Tasmania do nguyên nhân kỹ thuật thời gian đầu mới hòa mạng). Giá bán sỉ chủ yếu vẫn do giá năng lượng thế giới quyết định (vd giá khí đốt tăng cuối 2015) và nhất là các chính sách môi trường của Úc (tham gia Kyoto năm 2007, carbon tax năm 2012 của chính phủ Julia Gillard - tôi sẽ viết về các chính sách môi trường ở phần sau).

Mặc dù tác động vào giá không như mong đợi, chí ít việc cổ phần hóa các nhà máy điện và mở cửa cạnh tranh trên thị trường bán sỉ có thể coi là tương đối thành công. Mất trên dưới 10 năm Úc đã xây dựng được một thị trường upstream khá ổn định theo nghĩa laws, regulations, network operator và nhất là cơ chế auction giá điện kết hợp giữa "bàn tay vô hình" của thị trường và "bàn tay hữu hình" của nhà nước (AEMO). Dưới đây tôi sẽ tóm tắt hoạt động trading trên thị trường bán sỉ điện cho những ai quan tâm, phần tiếp theo sẽ về thị trường bán lẻ.

Trong thị trường bán sỉ người bán là các nhà máy phát điện (và gần đây nhất là trạm pin trữ điện do Elon Musk xây cho bang Nam Úc năm rồi - họ vừa là seller lẫn buyer). Người mua chủ yếu là các công ty bán lẻ (retailer) và một số doanh nghiệp sử dụng điện lớn. Hoạt động mua bán điện sỉ có thể thực hiện trên 3 kênh: (i) thị trường spot do AEMO quản lý, (ii) thị trường dài hạn (có thể coi như một dạng OTC), (iii) thị trường derivatives trên ASX.

Khi một hộ gia đình bật công tắc một thiết bị điện điều đó tương đương như (gián tiếp) gửi một tín hiệu về nhu cầu đến AEMO và retailer của mình. AEMO theo dõi total demand và cứ mỗi 5 phút yêu cầu các nhà máy điện chào giá. Mỗi nhà máy còn công suất đưa ra mức giá của mình, AEMO sẽ sắp xếp theo thứ tự thấp đến cao cho đến khi đủ đáp ứng total demand. Các nhà máy điện "trúng thầu" sẽ được AEMO gửi tín hiệu đến để phát điện lên lưới cho đến lần gọi giá tiếp theo. Giá thanh toán (settlement price) sẽ là trung bình của giá thắng thầu cao nhất trong vòng 30 phút (AEMO đang chuyển sang tính settlement trong vòng 5 phút).

Như vậy khi demand tăng cao (AEMO có dự báo cho 24 giờ kế tiếp) các traders của các nhà máy còn công suất sẽ đẩy giá spot lên. Phía các retailers buộc phải chấp nhận mức giá settlement đó nếu không giảm được demand từ khách hàng của mình. Như trong phần trước đã đề cập giá spot có thể tăng gấp vài lần đến vài chục lần và đó là một rủi ro rất lớn cho buyers vì họ không kiểm soát được. Do vậy các retailer phải phòng ngừa rủi ro bằng 2 cách: ký hợp đồng dài hạn giá cố định với một nhà máy phát điện nào đó và/hoặc sử dụng derivatives trên thị trường tài chính. [Trước đây họ cũng sử dụng khung giá lũy tiến cho hộ gia đình giống VN hiện nay và đang chuyển sang tính giá theo thời gian sử dụng trong ngày (vì điện kế thông minh đo được theo giờ) như một biện pháp giảm bớt variable demand vào giờ cao điểm].

Hợp đồng dài hạn giảm thiểu rủi ro nhưng giá cao. Hơn nữa vì bản thân các retailer cũng đối mặt với variable demand nên họ không chắc chắn phải mua bao nhiêu vào mỗi thời điểm nên chỉ có thể cam kết dài hạn ở mức tối thiểu. Bởi vậy họ vẫn phải tham gia vào spot market và buộc phải sử dụng các loại derivatives. Hiện tại Sàn Giao dịch Chứng khoán Úc (ASX) có các hợp đồng futures và options cho giá điện theo giờ. Ngoài ra trên thị trường OTC có các sản phẩm khác như forwards và swaps. Sử dụng derivatives để phòng ngừa rủi ro trên thị trường điện cũng tương tự như trên thị trường tài chính thông thường. Tất nhiên chi phí phòng ngừa rủi ro sẽ được cộng vào giá bán lẻ.

Bức ảnh này là phòng điều hành của một nhà máy điện chạy khí ở Queensland mà tôi may mắn được một người bạn dắt vào thăm quan. Màn hình ở giữa phòng là bảng giá spot real-time trên NEM của các bang.

5.

Đối với hầu hết người tiêu dùng "mở cửa thị trường điện cho cạnh tranh" đồng nghĩa với mở cửa thị trường bán lẻ. Nghĩa là bạn không cần biết nguồn điện từ đâu (Hòa Bình, Trị An, Phú Mỹ hay từ tấm phát điện mặt trời của nhà hàng xóm) nhưng nếu cần bạn có thể dễ dàng chuyển từ nhà cung cấp A sang nhà cung cấp B (hoặc X, Y, Z nào đó) như chuyển sim điện thoại từ Viettel sang Mobi.

Tuy nhiên vì đặc thù của hệ thống điện (khó dự trữ, nhiều loại primary energy khác nhau, chỉ có một đường truyền duy nhất) nên trên thực tế các nước có thị trường điện cạnh tranh đều tách mạng lưới điện thành 3 phần và mở cửa từ từ, phần bán lẻ luôn mở sau thị trường bán sỉ. Ở Úc các bang mở thị trường bán lẻ trong khoảng 2000-2008 (trừ Tasmania quá nhỏ nên chỉ có 1 retailer). Về cơ bản chính quyền bang rút vai trò độc quyền bán điện của một công ty (do bang sở hữu) và cho phép tư nhân cung cấp dịch vụ bán điện trực tiếp tới từng hộ gia đình.

Nhưng ở thời điểm đầu mới mở của giá bán lẻ vẫn bị quản lý, các bang đưa ra một mức giá trần (standard price) đi kèm với một hợp đồng mua bán điện chuẩn (standing contract) có các điều khoản tối thiểu bảo vệ người tiêu dùng. Sau đó vài năm các bang tiếp tục deregulation giá điện cho phép retailer được phép tự tính giá. Thành phố Brisbane chỗ tôi thả nổi giá điện hoàn toàn từ đầu 2016 trong khi các vùng sâu vùng xa (regional) của bang Queensland vẫn chịu quản lý giá của Queensland Competition Authority.

Hiện tại ở Úc có 3 nhà bán lẻ lớn (AGL, Origin, EnergyAustralia) chiếm hơn 80% thị phần ở đa số các bang. Họ là các công ty có nhiều nhà máy phát điện riêng của mình (thậm chí sở hữu cả các nguồn primary energy như than hay khí đốt). Bên cạnh 3 ông lớn này có khoảng 20 công ty nhỏ khác, một số cũng có nhà máy phát riêng (như Alinta), số còn lại phải mua điện trên thị trường bán sỉ rồi bán lại cho khách hàng. Ngoài ra còn có vô số các dịch vụ tư vấn, so sánh giá, giúp người dân chọn retailer. Bản thân chính phủ Úc cũng lập một website (energymadeeasy.gov.au) để giúp người dân chọn retailer.

Cho đến thời điểm này thị trường điện bán lẻ của Úc (ít nhất ở các thành phố lớn) đã được mở cửa cho cạnh tranh không giới hạn. Mức độ cạnh tranh không hề kém, nếu không nói là hơn ở một số mặt (như số lượng retailers), so với nhiều thị trường khác như viễn thông hay hàng không. Nhưng đáng tiếc là giá điện bán lẻ trong khoảng 10 năm lại đây không giảm như mong đợi mà lại tăng khá mạnh, cao hơn nhiều tốc độ lạm phát của nền kinh tế như tôi đã trích dẫn trong phần mở đầu.

Lý do đầu tiên có thể chỉ ra là giá bán sỉ không giảm trong giai đoạn này dù đây cũng là thị trường cạnh tranh, một phần vì giá primary energy tăng, một phần vì các qui định môi trường (tôi sẽ viết kỹ hơn trong phần viết tới). Nhưng quan trọng hơn là productivity của các nhà máy phát điện truyền thống khó có thể tăng được nữa vì công nghệ phát điện đã rất mature. Nếu có cải thiện chỉ ở những mặt liên quan đến khi thải/môi trường là chính, hiệu suất chuyển đổi năng lượng từ primary energy sang điện năng không còn nhiều khả năng được cải thiện (ngoại trừ điện gió, điện mặt trời).

Lý do thứ hai là chi phí truyền tải cũng không giảm mà tăng khá mạnh trong thời gian qua (trong cơ cấu giá bán lẻ phí này tương đương với giá bán sỉ). Như đã nói ở phần trước, hệ thống truyền tải (midstream) đa số vẫn là độc quyền của nhà nước. Nhưng đó không phải là lý do cước phí vận tải điện gia tăng mà là chi phí đầu tư cho mạng lưới điện gia tăng. Sở dĩ các công ty truyền tải gia tăng đầu tư đường truyền vì sau khi tách hệ thống điện thành 3 phần họ không phải đối mặt với người tiêu dùng nữa mà chỉ đầu tư theo yêu cầu của các công ty upstream và downstream. Các tiêu chuẩn về an toàn năng lượng, đáp ứng sức ép từ các chính trị gia xây đường truyền về các vùng sâu vùng xa, dễ được đáp ứng hơn vì giờ đây họ dễ dàng pass through chi phí đầu tư cho các nhà bán lẻ. Và cũng như các nhà máy điện, công nghệ đường truyền cả trăm năm nay không có nhiều tiến bộ nữa để nâng productivity nên không có cơ hội giảm giá.

Lý do thứ ba liên quan trực tiếp đến khu vực bán lẻ dù họ cạnh tranh gắt gao. Mặc dù điện có thể nói là một "perfect commodity", theo nghĩa nó luôn là ... điện dù mua của ai, trên thực tế thị trường này có tính chất monopolistic competition. Các retailer rất khôn khéo đưa ra nhiều dạng hợp đồng rất khác nhau, chỉ riêng khoảng 20 retailers ở bang Queensland đã có hơn 200 "sản phẩm" với hàng chục chi tiết khác nhau (vd thời hạn, biểu giá, khung giá, qui định thưởng phạt, chiết khấu, các loại phí cộng thêm ... và gần đây là feed-in tariff cho phần điện mặt trời dư thừa). Do đó so sánh các "sản phẩm" của các retailer khác nhau không hề đơn giản. Chưa kể các rào cản khác như phí phạt chấm dứt hợp đồng sớm và tâm lý ngại thay đổi của người dân. Tỷ lệ chuyển đổi retailer ở hầu hết các bang chỉ xấp xỉ 5%, nghĩa là các retailer trên thực tế vẫn có monopoly power đáng kể.

6.

Như vậy kinh nghiệm hơn 10 năm của Úc mở cửa thị trường điện cho cạnh tranh không dẫn đến giảm giá như nhiều người mong đợi, nhất là các fan của Hayek, Friedman và... Ayn Rand, một phần vì tính chất đặc biệt/phức tạp của thị trường này. Lý thuyết kinh tế học cho rằng cạnh trạnh sẽ làm giá giảm trong 2 trường hợp: (i) trước khi có cạnh tranh doanh nghiệp có monopoly power bán sản phẩm với giá cao hơn marginal cost, nghĩa là họ có economic rent (trong thị trường cạnh tranh tự do economic rent bằng không), (ii) cạnh tranh sẽ dẫn đến gia tăng productivity vì các doanh nghiệp sẽ nghiên cứu/đầu tư vào công nghệ mới và tìm cách giảm cost.

Kinh nghiệm của thị trường bán sỉ (upstream) ở Úc cho thấy hoặc các doanh nghiệp điện của nhà nước trước kia không có mấy economic rent hoặc thị trường (bán sỉ) hiện tại chưa thực sự ... cạnh tranh nên các generators vẫn giữ được economic rent. Cá nhân tôi cho rằng các doanh nghiệp điện nhà nước trước đây ở Úc (và cả EVN hiện tại - tôi sẽ giải thích bên dưới) có economic rent không đáng kể. Về mặt chính trị chính quyền bang sẽ rất khó ăn khó nói với cử tri nếu các doanh nghiệp này có lợi nhuận cao trong khi người dân phải trả tiền điện đắt. Hơn nữa mục tiêu "kinh doanh" của họ thời đó không phải maximize profit, CEO và các managers chắc không được performance bonus và stock options như các đồng nghiệp trong private sector.

Xét trên bề mặt khi mà có gần 100 generators độc lập bán điện lên NEM và đấu giá cứ mỗi 5 phút một lần khó có thể nói thị trường bán sỉ hiện tại kém cạnh tranh hơn bất kỳ thị trường nào khác. Nhưng trên thực tế điện phát ra từ một nhà thủy điện khác với điện phát ra từ một gas turbine dù cùng là 220V - 50Hz (bạn tham khảo lại phần 2). Các traders khôn ngoan trên thị trường bán sỉ vẫn có khả năng extract economic rent cho nhà máy của mình, ít nhất trong ngắn hạn bằng cách đẩy giá spot lên hàng chục lần. Như vậy có thể thấy một paradox là cạnh tranh tự do lại tạo điều kiện cho economic rent xuất hiện trên thị trường điện (giả sử trong thời nhà nước độc quyền không có).

Tất nhiên các retailers có nhiều cách hedge rủi ro giá, nhưng điều này gây ra thêm một loại chi phí nữa mà các hộ gia đình tiêu dùng phải gánh chịu. Và đây không chỉ là chi phí mới duy nhất mà các retailer pass through cho người tiêu dùng. Trên một thị trường cạnh tranh gay gắt chi phí marketing, chi phí môi giới không hề nhỏ để giành giật khách hàng. Ngay cả nếu economic rent của các retailer bằng không (điều mà tôi nghi ngờ trong phần 5) nhiều loại chi phí mới xuát hiện cùng với thị trường cạnh tranh sẽ làm retail price tăng thêm.

Về vấn đề productivity cũng trong phần 5 tôi đã nghi ngờ khả năng cạnh tranh sẽ đem lại higher productivity ở upstream và midstream. Trên thị trường bán lẻ có lẽ productivity trong thời gian đầu đã được cải thiện, chắc ngày xưa nhân viên điện lực nhà nước ở Úc cũng có nhiều người quan liêu/cửa quyền như ở VN. Khi doanh nghiệp chuyển sang cơ chế thị trường tôi tin những hành vi như vậy sẽ dần dần bị loại bỏ. Nhưng sau đó việc tiếp tục tăng productivity trong retail sector sẽ rất khó. Retailer về bản chất là các doanh nghiệp dịch vụ, mà khu vực dịch vụ (như giáo dục, y tế) luôn là nơi có productivity tăng rất chậm so với nền kinh tế nói chung. Có thể tương lai khi các retailer ứng dụng AI để tự động hóa một số khâu dịch vụ và sử dụng consumer data cho các dịch vụ cộng thêm thì productivity của khu vực này sẽ tiếp tục được cải thiện. Nhưng dù sao chi phí bán lẻ chỉ chiếm khoảng 15% giá điện nên những tiến bộ trong khu vực này sẽ không có ảnh hưởng lớn vào giá bán lẻ.

Nói qua một chút về EVN (thực ra tôi định sẽ viết một phần riêng về VN nhưng nhân tiện đang bàn về economic rent và productivity nên viết luôn để khỏi quên). Khoảng năm 1995 tôi có tham gia một cuộc đàm phán 3 bên gồm BP, EVN và PVN. Lúc đó BP đang triển khai 2 mỏ khí Lan Tây, Lan Đỏ và đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn từ các mỏ đó vào đất liền, đó là các mỏ khí và đường ống offshore đầu tiên của VN. BP đưa ra phương án họ sẽ xây luôn nhà máy phát điện (gas turbine) và muốn kí hợp đồng bán điện dài hạn cho EVN. Ask price của BP là 12 cent/kWh, trong khi bid price của EVN là 8 cent/kWh (và EVN phải bao tiêu, nghĩa là dùng điện ở nhà máy đó chạy base load). Cuối cùng dự án không đi đến đâu và BP phải chấp nhận bán khí cho PVN.

Tất nhiên chi phí phát điện từ thủy điện/nhiệt điện chạy than rẻ hơn gas turbine, nhưng chắc chắn giá bán lẻ (real price) thời đó rẻ hơn bây giờ. Hiện tại tôi không rõ giá EVN mua của các nhà máy phát điện tư nhân là bao nhiêu, nhưng theo báo chí họ mua của các dự án điện mặt trời ở miền Trung với giá hơn 10 cent/kWh trong khi giá bán lẻ cũng chỉ trên dưới 10 cent/kWh. Dù không biết chính xác vì không có thời gian tìm hiểu nhưng tôi đoán economic rent của EVN hiện tại không cao, thậm chí không có. Do đó dù ủng hộ mở cửa thị trường điện (lý do tôi sẽ viết trong phần sau) nhưng tôi không kỳ vọng giá điện bán sỉ sẽ giảm vì cạnh tranh sẽ xóa bỏ economic rent của EVN.

Mở cửa cạnh tranh sẽ giúp tăng productivity nhưng không phải vì công nghệ mà ở tác phong làm việc và nhất là khía cạnh governance của EVN. Nhiều người cho rằng giá điện hiện tại phải gánh các khoản lỗ do đầu tư ngoài ngành hay chi phí xây sân tennis, nhà nghỉ cho cán bộ EVN. Đây là vấn đề corporate governance chứ không phải vì độc quyền. Cạnh tranh có thể giúp cải thiện vấn đề này nhưng như đã nói ở trên phần chi phí tiết kiệm được không quá lớn để có ảnh hưởng đáng kể vào giá điện.

Trong khi đó tôi tin rằng EVN hiện tại được nhiều ưu đãi (đúng hay không chưa bàn ở đây) như được tiếp cận nguồn vốn rẻ (ODA), đất đai, hạ tầng rẻ, sở hữu các assets đã khấu hao hết (Hòa Bình, Trị An)... nên sẽ offset phần nào vấn đề productivity thấp. Nếu tất cả các ưu đãi đó được tính vào giá sau khi ngành điện mở ra cho cạnh tranh hoàn toàn như ở Úc và nhiều nước phát triển khác thì giá bán lẻ rất có thể sẽ tăng. Nhưng như đã viết trong phần đầu quan điểm của tôi là giá điện ở VN cần phải tăng.

7.

Trong cấu thành giá bán lẻ điện ở Úc hiện nay có khoảng 15% là "chi phí môi trường". Trước khi bàn về bản chất của chi phí này cần nói rõ đó là chi phí trực tiếp do các chính sách bảo vệ môi trường và chống biến đổi khí hậu do chính phủ đưa ra. Bên cạnh đó giá điện còn có các chi phí môi trường gián tiếp khó định lượng hơn nhưng chắc chắn là đáng kể.

Úc là một trong số hơn 60 quốc gia đặt mục tiêu cho tỷ lệ năng lượng từ nguồn tái tạo (renewable). Năm 2001 chính phủ John Howard thông qua Mandatory Renewable Target (MRET) đầu tiên với cam kết đến năm 2010 sẽ đạt ít nhất 2% nguồn năng lượng từ renewable. Đến năm 2007 chính phủ Kevin Rudd tăng MRET lên 20% vào năm 2020, tương đương với sản lượng khoảng 45000GWh. Để khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào năng lượng tái tạo chính phủ Úc đưa ra một cơ chế như sau.

Khi một nguồn năng lượng tái tạo mới được lắp đặt (kể cả các tấm năng lượng mặt trời của các hộ gia đình) chính phủ sẽ cấp cho nhà đầu tư một số chứng chỉ (RET certificate) dựa vào công suất và một số thông số kỹ thuật khác (cách đây 2 năm khi tôi lắp hệ thống điện mặt trời ở nhà mình tôi cũng được hơn 10 RET certificates). Các chứng chỉ này (thực ra có 2 loại nhưng tôi không đi vào chi tiết) có thể mua bán trên thị trường và người mua là các electricity retailers vì họ buộc phải có một lượng chứng chỉ nhất định tương đương với tổng số điện năng họ sẽ bán cho khách hàng trong năm. Chi phí bắt buộc này sẽ được tính trực tiếp vào giá điện.

Năm 2012 cánh tả của chính phủ Julia Gillard đưa ra carbon tax đánh trực tiếp vào các nhà máy nhiệt điện làm giá điện tăng vọt trong quí 3 năm đó. Đây cũng là một chi phí môi trường trực tiếp. Nhưng chỉ một năm sau cánh hữu thắng cử và đến giữa năm 2014 chính phủ của Tony Abbott bãi bỏ carbon tax (và giảm MRET xuống 33000GWh). Do vậy ở thời điểm hiện tại chỉ còn chi phí RET certificate trong giá điện. Tuy nhiên nếu cánh tả thắng cử lại trong kỳ bầu cử quốc hội vào tuần tới thì các chính sách môi trường có thể lại gia tăng.

Đó là chi phí trực tiếp, chi phí môi trường gián tiếp trong giá điện là tác động của các chính sách năng lượng dài hạn. Từ giữa thế kỷ 20 Úc đã định hướng không phát triển điện hạt nhân mà tập trung vào nhiệt điện than dù họ có rất nhiều cả hai loại tài nguyên này (Úc vẫn là một trong những quốc gia xuất khẩu uranium và than lớn nhất thế giới). Đó là một quyết định đáng tiếc vì thời đó chưa ai biết đến tác hại của nhiệt điện than đến môi trường và khí nhà kính. Điện hạt nhân hiện nay được cho là nguồn năng lượng carbon-free rẻ nhất để chạy base load.

Đối mặt với các qui định môi trường ngày càng chặt và phản ứng của giới bảo vệ môi trường (green party), tỷ lệ điện phát từ điện than đã giảm từ 80% xuống xấp xỉ 60% trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến nay. Từ năm 2012 có 13 nhà máy nhiệt điện than đóng cửa, gần nhất là vụ nhà máy Hazelwood bất ngờ đóng cửa năm 2017 gây nhiều tranh cãi, giảm hơn 6500MW công suất phát của toàn hệ thống. Công suất điện than giảm dần là một nguyên nhân quan trọng làm giá điện bán sỉ tăng lên. Đây cũng là một chi phí môi trường gián tiếp khác. 

Vấn đề cuối cùng ảnh hưởng đến giá điện là tỷ trọng của các nguồn có tính chất intermittent (điện gió, điện mặt trời) gia tăng dẫn đến nhu cầu peak load tăng nhanh hơn base load và giá spot biến động ngày càng mạnh hơn. Đồ thị bên dưới giải thích hiện tượng này, về cơ bản hệ thống điện thay vì có thể lên kế hoạch trước tương đối chính xác bây giờ phải có công suất dự phòng lớn hơn cho những khi mây mưa làm giảm công suất điện mặt trời hay những lúc đứng gió đột xuất. Nghịch lý là tỷ trong các nguồn năng lượng "free" (gió, mặt trời) tăng lên lại làm cho giá bán lẻ trung bình tăng. Ngoài ra tính không ổn định của các nguồn intermittent còn gây ra các vấn đề kỹ thuật khác cho mạng lới truyền tải, dẫn đến chi phí bị đội lên. Do vậy hiện tại bang Queensland chỗ tôi đã giới hạn các hộ gia đình chỉ được lắp tối đa 5kW/phase. EVN hay các công ty điện lực cạnh tranh ở VN sau này không sớm thì muộn cũng phải đối mặt với vấn đề này.

8.

Nếu bạn đã kiên nhẫn đọc hết các phần trước chắc bạn đã thấy thị trường điện rất phức tạp, Úc mở cửa cho cạnh tranh hơn chục năm rồi mà còn xa (nếu không nói sẽ không bao giờ) có được "perfect competition" như trong textbook để giá điện giảm. Dù không thích cách nói "trịch thượng" của ông phó tổng EVN Đinh Quang Tri nhưng tôi có đồng quan điểm là mở cửa thị trường điện VN cho cạnh tranh sẽ dẫn đến giá bán lẻ tăng.

Một lập luận phổ biến đáp lại quan điểm của ông Tri (và của tôi) là "giá tăng thì kệ giá tăng, cứ giải thể EVN đi/mở cửa cho cạnh tranh đi vì chúng tôi cần minh bạch". Tôi xin "tiết lộ" một "dirty secret" mà những người cổ súy cho thị trường tự do không bao giờ đề cập đến: cạnh tranh không dẫn đến minh bạch và điều này đúng không chỉ trong ngành điện. Trừ khi bạn là CEO/CFO của Samsung hay chủ tiệm phở, bạn sẽ không thể biết cấu thành giá của một chiếc điện thoại Galaxy trong túi hay một tô phở bò bạn vừa ăn sáng. Bạn cũng không thể biết các mánh lới kinh doanh/cạnh tranh/giành khách của bất kỳ doanh nghiệp nào nếu bạn không phải người trong cuộc, cho dù thị trường cạnh tranh đến đâu.

Vậy minh bạch (nếu có) đến từ đâu? Câu trả lời khá obvious nhưng có thể làm một số người khó chịu (nếu họ suốt ngày cổ súy cho deregulation): Minh bạch đến từ regulation của nhà nước và các hiệp hội tư nhân. Một nhà máy điện phải công khai lượng khí thải vì regulation của nhà nước bắt buộc như vậy. Một công ty đại chúng phải công khai báo cáo tài chính vì luật (và qui định của sàn chứng khoán) yêu cầu như vậy. Nếu bạn chỉ muốn EVN minh bạch hơn thì đừng đòi mở cửa cho cạnh tranh mà phải yêu cầu quốc hội ra luật bắt buộc EVN công khai những thông tin mà bạn muốn.

Có điều tiếng nói của bạn có được lắng nghe không, rồi khi có luật ra rồi nó có được enforce nghiêm túc hay không thì lại quay lại vấn đề governance mà tôi đã đề cập đến trong phần trước. Ở tầm mức quốc gia governance phụ thuộc vào cơ chế/thể chế chính trị. Liệu bạn, là shareholder của EVN thông qua nhà nước, có tiếng nói gì/quyền lực gì trong việc buộc EVN phải minh bạch hơn, không được đầu tư ngoài ngành, không được xây sân tennis, trả lương khủng cho cán bộ... là vấn đề governance ở cả cấp độ doanh nghiệp lẫn cấp độ nhà nước/hệ thống chính trị.

Quay lại vấn đề điện than ở Úc (và cả ở VN), tôi đồng tình với quan điểm một hệ thống điện cần phải diversify nguồn phát, bao gồm cả điện than lẫn điện hạt nhân (hay điện từ phản ứng nhiệt hạch có khả năng sẽ xuất hiện trong vài thập kỷ tới [*]). Nhưng ở đây tôi lại muốn đạt được điều này thông qua nhà nước và thị trường cùng làm. Nhà nước đưa ra các tiêu chuẩn/regulation liên quan đến môi trường/khí thải/an toàn (và các yêu cầu kỹ thuật khác) còn thị trường sẽ quyết định đầu tư vào điện than (có hay không có CCS) hay điện khí, điện mặt trời... dựa trên công nghệ nào có ROI cao nhất.

Cá nhân tôi cho rằng điện than sẽ không có tương lai nếu các chi phí liên quan đến môi trường/khí thải được tính đúng tính đủ, trừ khi có một đột phá công nghệ nào đó. Tuy nhiên tôi đồng ý là đóng cửa/cấm đoán điện than ngay lập tức là tự bắn vào chân mình. Chưa kể đến khia cạnh an toàn năng lượng trong ngắn hạn khi các nguồn điện khác chưa có khả năng thay thế than, chỉ xét khía cạnh kinh tế (nhất là với VN khi cost of capital chắc chắn cao hơn Úc) thì ROI của một nhà máy điện chạy than (với operating cost thấp, phục vụ cho base load và long-term contract) vẫn còn khả thi.

Về lâu dài cứ để thị trường quyết định, nhà nước chỉ cần ra luật (môi trường/khí thải) và enforce nghiêm minh (lại là governance). Vụ nhà máy điện than Hazelwood ở Úc đóng cửa là một ví dụ. Mặc dù giá phát của nhà máy này rất rẻ nhưng đối mặt với chi phí hơn 400 triệu AUD phải bỏ ra cải tạo lại nhà máy để đảm bảo các qui định về môi trường, chủ nhà máy đã quyết định đóng cửa đơn thuần vì lý do kinh tế. Hi vọng đọc đến đây bạn có thể thấy thực ra quan điểm của tôi rất pro-market/pro-competition. 

Trong phần dưới tôi sẽ giải thích tại sao tôi vẫn cổ súy cho việc mở cửa thị trường điện cho cạnh tranh dù tin rằng điều đó sẽ làm giá điện tăng.

[*]: Bạn nào quan tâm đến các tiến triển công nghệ gần đây liên quan đến Fusion power có thể tham khảo bài "Doughnuts, apples, smoke rings and shrimps" trên số báo 4/5/19 The Economist.

9.

Có một bộ phim tài liệu của đài truyền hình CBS tôi rất thích tên là "Commanding Heights" chuyển thể từ một quyển sách cùng tên của Daniel Yergin và Joseph Stanislaw (đã được dịch sang tiếng Việt). Trong quân sự "commanding heights" là những điểm cao mà từ đó hỏa lực có thể kiểm soát được toàn bộ mặt trận. Lenin là người đầu tiên đưa khái niệm này vào kinh tế để gọi những ngành sản xuất quan trọng mà một nhà nước XHCN nếu kiểm soát được sẽ chi phối toàn bộ nền kinh tế (dù các ngành khác vận hành theo cơ chế thị trường).

Khi VN bắt đầu mở cửa đầu những năm 1990s (và cho đến tận gần đây) các nghị quyết của ĐCS vẫn khẳng định kinh tế nhà nước là chủ đạo và tất nhiên nhà nước phải nắm các "commanding heights" của nền kinh tế. Trong đó ba lĩnh vực được cho là có vai trò sống còn đến an ninh của chế độ là viễn thông, vận tải xuyên quốc gia (hàng không, đường sắt) và năng lượng (điện, xăng dầu), không thể cho tư nhân (và nước ngoài) tham gia. [Tôi không biết tại sao thời đó ngành tài chính/ngân hàng không bị kiểm soát như 3 lĩnh vực nói trên. Thực tế hệ thống ngân hàng của VN được thả nối khá sớm, trước và tự do hơn cả ở TQ.]

Thế rồi ý tưởng phải độc quyền các "commanding heights" ngày càng lu mờ, nhất là sau khi các "quả đấm thép" (aka các tập đoàn kinh tế nhà nước) liên tục thua lỗ và lụn bại. Viễn thông và vận tải thoát ra trước, ngành năng lượng chậm hơn nhưng cũng không tránh được xu thế mở cửa cho cạnh tranh và tất nhiên là chấp nhận sở hữu tư nhân. 

Đồ thị bên trên là lịch trình cải tổ (mà thực ra là tự do hóa và tư nhân hóa) thị trường điện của VN (nguồn: World Bank, 2018, Vietnam: Maximizing Finance for Development in the Energy Sector). [Note: Đồ thị này chưa được cập nhật, thị trường bán sỉ (VWEM) chỉ chính thức hoạt động vào đầu năm nay thay vì 2017].

Quá trình thay đổi tư duy của (giới lãnh đạo) VN từ kinh tế kế hoạch hóa, sang thị trường với các commanding heights do nhà nước nắm (và đảng viên không được làm kinh tế tư nhân), rồi đang tiệm cận đến thị trường tự do hoàn toàn, dù chậm nhưng đúng hướng. Tôi tin cái đuôi "định hướng XHCN" sẽ dần bị lãng quên và loại bỏ trong tương lai, biết đâu mấy cái khẩu hiệu "4.0" hay "Make in Vietnam" sẽ giúp những cái đầu thủ cựu cuối cùng quên đi cái đuôi đó.

Mở cửa thị trường điện cho cạnh tranh là chính sách phù hợp với quá trình "tự diễn biến" về nhận thức quản lý kinh tế đó. Bất kể mở cửa thị trường điện có làm giá tăng, cá nhân tôi (và tôi tin đa số người Việt) ủng hộ chính sách này để VN tiến gần hơn đến những chuẩn mực thị trường trên thế giới, rồi biết đâu sẽ tiến gần hơn các chuẩn mực chính trị/xã hội văn minh khác mà người dân ở nhiều nơi đang được hưởng. Nhưng tất nhiên tôi ủng hộ mở cửa thị trường điện không chỉ vì lý do chính trị. Chấp nhận cạnh tranh, chấp nhận sở hữu tư nhân có nhiều lợi ích kinh tế khác mà tôi không cần nhắc lại, chẳng thế mà quá trình cổ phần hóa (mà đúng hơn là tư nhân hóa) các doanh nghiệp nhà nước ở các nhiều lĩnh vực đã được chấp nhận rộng rãi ở VN gần 3 thập kỷ qua.

Ở đây tôi xin đưa ra 3 lý do khác đặc thù của ngành điện cho quan điểm ủng hộ mở cửa cạnh tranh. 

Thứ nhất, thị trường điện cạnh tranh với rất nhiều người mua/người bán sẽ làm giảm nhiều loại rủi ro. Về mặt tài chính rủi ro một nhà máy điện bị phá sản/ngưng trệ (vì thiên tai, phá hoại, biến đổi khí hậu hay đơn thuần do kinh doanh kém...) sẽ không/ít ảnh hưởng đến các doanh nghiệp khác trên hệ thống (vào balance sheet, credit rating). Một công ty bán lẻ bị phá sản/ngưng trệ cũng sẽ ít gây gián đoạn cho người tiêu dùng. Về mặt an ninh năng lượng thị trường cạnh tranh sẽ có phản hồi tốt hơn khi demand thay đổi (miễn là giá cả phản ánh đúng cung cầu). Về phía cung không ai biết công nghệ trong tương lai sẽ thay đổi ra sao, đột phá về phản ứng nhiệt hạch hay công nghệ pin trữ điện có thể làm thay đổi cấu trúc thị trường nhanh chóng.

Thứ hai, thị trường cạnh tranh sẽ tạo động lực cho R&D, innovation và cả các startup. Lấy ví dụ một số retailers ở Úc đã đưa ra những sản phẩm mới theo dạng subscription, hàng tháng khách hàng trả một khoản phí cố định rồi được dùng điện thoải mái. Nếu nhà có gắn solar power và có battery, phí phải trả rất thấp (thậm chí bằng không) vì retailer có thể lấy điện từ battery của bạn bán lên thị trường spot khi giá bán sỉ tăng vọt. Hay như có startup đang nghiên cứu phát triển thị trường peer-to-peer tạo platform cho các hộ gia đình (có solar power) có thể mua bán điện trực tiếp với nhau không cần thông qua retailer. Những ý tưởng như vậy chỉ có thể triển khai được ở một thị trường năng động sẳn sàng đón nhận cạnh tranh.

Thứ ba, mở cửa thị trường sẽ tách bạch vai trò của nhà nước vừa là regulator vừa là nhà kinh doanh, tránh conflict of interest (vd vụ tạm đóng cửa thị trường phát điện cạnh tranh VCGM tháng 10/2017 để trợ giúp ngành khí). Trong phần trước tôi đã đề xuất cơ chế nhà nước chỉ đưa ra regulation còn đầu tư vào công nghệ nào, ở đâu, bao giờ sẽ do thị trường quyết định. Điều này không chỉ hiệu quả theo nghĩa resource allocation như textbook nói mà riêng với ngành điện nó sẽ giúp nhà nước tránh phải đối mặt với các thể loại populist pressure bất chấp các bằng chứng khoa học và hiệu quả kinh tế. Một thị trường cạnh tranh đúng nghĩa cũng giúp nhà nước thực thi những chính sách bảo vệ môi trường hiệu quả và công bằng hơn (như hệ thống REC của Úc).

Tóm lại với tôi có rất nhiều lý do cần/nên mở cửa thị trường điện cho cạnh tranh nhưng không phải để làm giảm giá bán. Trên thực tế thị trường điện VN đã được mở 2/3 rồi và giai đoạn cuối cùng (mở thị trường bán lẻ) sẽ bắt đầu vào năm 2021. Tất nhiên đây là giai đoạn khó nhất nhưng được người dân trông đợi nhất. Có điều để mở cửa hoàn toàn EVN còn phải làm một bước nữa là ... tăng giá bán lẻ và đây là một điều cần thiết cho sự thành công của quá trình tự do hóa thị trường điện. Tại sao cần tăng?

Theo tính toán của World Bank thì giá điện bán lẻ phải lên đến 12 cent mới đủ để một doanh nghiệp điện đang hoạt động tương đối hiệu quả như EVN (đây là đánh giá của WB chứ không phải của tôi) có lãi nếu tất cả các chi phí được tính đúng/tính đủ theo cơ chế thị trường. EVN hiện nay tồn tại được và vẫn có "lãi" là nhờ nhiều hỗ trợ của nhà nước. Đấy là chưa tính đến các chi phí môi trường (carbon tax hay REC như của Úc) trong tương lai và với giả định giá LNG không tăng quá cao so với mặt bằng hiện tại (đã giảm hơn 50% so với vài năm trước). Nên nhớ để một thị trường cạnh tranh tự do thì giá phải đủ cao (ROI đủ cao) để hấp dẫn các nhà đầu tư. Nếu không cứ mở cửa rồi EVN lại vẫn một mình một chợ và nhà nước vẫn phải trợ giá để xây các nhà máy mới.

Tất nhiên EVN có thể cứ giữ giá như hiện tại cố xoay xở qua năm 2021 rồi để các retailer tăng giá vọt lên hộ mình. Nhưng như vậy sẽ có rủi ro dân chúng biểu tình như phong trào áo vàng ở Paris rồi chính phủ phải nhượng bộ tạm dừng mở cửa thị trường hoặc mở cửa nhưng đặt giá trần và giới đầu tư tư nhân sẽ không mặn mà tham gia. Cứ giả sử WB và EVN tính toán sai tăng giá lên cao hơn mức cần thiết để thị trường bán lẻ cạnh tranh có thể khởi động thì sau khi mở cửa cạnh tranh sẽ đẩy giá xuống như lập luận của nhiều người. Tất nhiên tôi tin vào đánh giá của WB hơn là lập luận của các populist writers.

Ngoài lý do giúp cho việc mở cửa thị trường bán lẻ được suôn sẻ vào năm 2021, nhiều bạn sẽ đồng ý với tôi tăng giá lên là điều kiện cần để gia tăng nguồn năng lượng sạch/năng lượng tái tạo. Hiện tại 34% công suất phát điện của VN là từ than, chưa nói đến lấy nguồn vốn ở đâu để đầu tư thay thế những nhà máy này nếu không tăng giá bán lẻ như báo cáo WB chỉ ra, chỉ cần thay chi phí phát điện than hiện tại bằng khí đốt là đã đẩy giá bán sỉ/bán lẻ lên rồi bất kể thị trường điện có cạnh tranh hay không. Chúng ta muốn/đòi hỏi được sống trong một môi trường sạch sẽ, giảm bớt rủi ro climate change thì phải chấp nhận trả một giá nào đó chứ. There is no free lunch.

Nhưng không chỉ vấn đề môi trường, nếu bạn đọc bài nghiên cứu của GS Phạm Duy Hiển (link trên Viet-studies gần đây) sẽ thấy giá điện thấp dẫn đến một mô hình phát triển kinh tế energy-intensive đầy rủi ro và không sustainable cho VN. Lượng điện tiêu thụ trên một đồng GDP của VN cao hơn bất kỳ quốc gia nào khác ở khu vực Châu Á - TBD (trước đây tôi cũng từng đề cập đến vấn đề VN có tỷ lệ oil/GDP rất cao). Đã có nhiều cảnh báo về việc giá năng lượng rẻ dẫn đến VN thu hút FDI ở các lĩnh vực bẩn tiêu tốn nhiều năng lượng để được trợ cấp gián tiếp. Chúng ta đã qua rồi giai đoạn phải thu hút FDI bằng mọi giá, tăng trưởng bằng mọi giá. Tăng giá điện để có một nền kinh tế cân bằng và bền vững hơn là điều cần thiết.

Trước khi kết thúc tôi xin viết vài dòng về một lập luận rất populist chống lại việc tăng giá điện. Đó là giá điện của VN không rẻ nếu so với mức thu nhập bình quân của người dân. Tôi tự hỏi những người đưa ra lập luận đó có bao giờ đòi nhà nước phải áp giá trần lên điện thoại di động, xe hơi, hay cả nhà đất hay chưa vì tất cả những thứ đó đều "đắt hơn thế giới" so sánh tương đối với thu nhập của người Việt. Bỏ qua chuyện đó lập luận này có 2 vấn đề về mặt kinh tế học. 

Thứ nhất nó dựa trên giả định giá điện không phụ thuộc gì vào giá các loại hàng hóa khác trên thế giới mà chỉ phụ thuộc vào giá nhân công (i.e. nhân công rẻ nên giá phải rẻ). Tất nhiên điều này khác xa với thực tế, điện là một ngành capital intensive và chắc chắn cost of capital ở VN cao hơn thế giới. Thứ hai nó tách biệt giá ra khỏi hành vi tiêu dùng và các yếu tố kinh tế khác. Rổ tiêu dùng của một hộ gia đình không chỉ phụ thuộc vào giá các loại hàng hóa và thu nhập mà còn vào nhu cầu, sở thích, thói quen, hoàn cảnh sống... 

Nếu bạn tìm được 2 hộ gia đình giống hệt nhau về mọi mặt chỉ trừ thu nhập và giá điện phải trả thì có thể làm thế này để so sánh ai phải trả giá điện "đắt" hơn: So sánh tỷ lệ tiêu dùng chi cho điện (tổng số kWh x giá), hộ nào phải trả cao hơn thì ở đó giá điện "đắt hơn". Tất nhiên một hộ gia đình ở VN và ở Úc khác nhau xa, nhưng tạm lấy số liệu trong báo cáo của WB một hộ nghèo ở VN chi tiêu khoảng 4% thu nhập vào tiền điện, khá tương đồng (thậm chí thấp hơn ở vài bang) của Úc (số liệu từ Huge Saddler, 2018, How Low Income Use Electricity, Australia Institute). Nhưng ngay cả nếu giá điện ở VN thực sự "đắt" (so với thu nhập) thì đó có phải lý do để những người vốn dĩ pro-market yêu cầu nhà nước can thiệp không cho EVN tăng giá?

Hãy cứ để thị trường lên tiếng, theo kế hoạch chỉ còn 2 năm nữa thôi là các bạn sẽ có cạnh tranh hoàn toàn trên thị trường điện. Nhưng lỡ lúc đó giá tiếp tục tăng thì nhớ đừng kêu gọi nhà nước can thiệp. Nếu bạn chưa đọc báo cáo của WB thì còn một "bad news" này nữa: giá điện bán lẻ ở VN có thể sẽ phải tăng lên 14 cent chứ không chỉ 12 cent, phải chuẩn bị áo vàng là vừa.