Hát Ả đào - từ phong lưu đến phong tình

hat-a-dao-tu-phong-luu-den-phong-tinh

Hát Ả đào - thú tiêu khiển phong lưu đã có lịch sử cả ngàn năm rồi. Mỗi ca quán ngoài kép đàn thì không thể thiếu được đào nương. Khác với ca nữ, đào nương vừa hát vừa gõ phách. Đó cũng là lối biểu diễn đặc biệt của Ả đào. Hiện nay dấu tích tổ nghề chính là đình Đông Hương ở 82 phố hàng Trống, là nơi thờ một đào nương.

CA QUÁN Ả ĐÀO VÀ THÚ CHƠI CÔ ĐẦU

Thời cực thịnh của nghề đàn phách ả đào là khi ca quán còn trên phố Hàng Giấy. Một buổi hát được gọi là một chầu. Kép chơi đàn đáy, đào nương vừa hát vừa gõ phách và không thể thiếu người cầm chầu. 

Người có “máu mặt” nhất trong các quan viên (cách xưng hô tôn kính chỉ khách đến nghe hát) thường được mời cầm chầu. Nói vậy chứ cầm roi chầu không hề đơn giản. Người cầm chầu phải biết khi nào đánh sơ cổ, tòng cổ, trung cổ và khi nào dùng các khổ song châu, liên châu, xuyên tâm… Nghĩa là phải rất am tường đàn phách. Quan viên cầm chầu không chỉ như thành viên trong ban nhạc mà còn có cái quyền chấm thưởng cho đào nương bằng tiếng “cắc” gõ vào tang trống. 

Đào nương được càng nhiều tiếng thưởng thì danh tiếng càng bay xa. Ngược lại, đào nương hát dở thì tiếng trống sát phạt nổi lên dữ dội. Đào nương nào gặp tiếng trống vậy thì chỉ có nước buông phách, lấy vạt áo che mặt mà tháo lui cho nhanh. 

Trong ca quán có gì?

Đây, một căn gác cao ráo, sạch sẽ. Bên trong đủ cả. Nào thì tủ chè khảm trai, hoành phi, câu đối, đỉnh đồng. Rồi bàn ghế kiểu Tàu, tranh thủy mặc không thiếu thứ gì. Mới nhìn qua ngỡ là nhà của quan Tuần phủ về hưu. Giữa nhà là chiếc sập gụ khảm xà cừ dành cho khách nằm hút thuốc phiện và nghe hát. 

Khi quan viên bước chân vào nhà, đào nương chắp tay xá chào mời ngồi. Khi quan viên đã an tọa, chầu ả đào được bắt đầu. Tiếng đàn đáy dạo từng tiếng khoan nhặt. Giọng ca đào nương cất lên thánh thót “Non xanh xanh...nước xanh xanh...”. Tiếng phách, tiếng sênh từng nhịp đều đặn. Thỉnh thoảng điểm tiếng trống chầu theo xen lẫn tiếng gõ thưởng “cách, cách” khoái trá. Khách cứ lịm đi do rượu, do thuốc phiện hay do lời ca tiếng đàn đầy ma mị, liêu trai?
...

Thập niên 1920 trở đi, sự xâm thực ngày càng lớn của văn hóa Tây phương khiến giọng ca, tiếng đàn của hát ả đào dần lạc nhịp, không còn thuần khiết như xưa nữa. Đào kép không còn nắn tiếng đàn, giọng ca sao cho hay cho ngọt nữa. Đào nương được gọi là cô đầu. Khách cũng không mấy người thích nghe hát nữa mà chỉ uống rượu và ve vãn cô đầu. Sự biến đổi này đã xuất hiện một loại cô đầu nữa bên cạnh đào nương. Đó chính là cô đầu rượu.

Cô đầu rượu phần nhiều không biết hát. Nhưng họ lại biết cách búi tóc thật cao để khoe cái cổ trắng ngần. Tuy không biết hát nhưng cô đầu rượu rất giỏi lả lơi ve vãn khách. Dĩ nhiên rồi, họ cũng sẵn sàng “lửa bén mặn nồng” khi khách có nhu cầu ở lại đêm.

Năm 1920, người Pháp quy hoạch lại phố Hàng Giấy. Đường sá mở mang sạch đẹp. Vì vậy các tay cự phú Hà Nội thi nhau đổ xô về mua nhà, lập hiệu kinh doanh. Đáng chú ý có vợ chồng ông chủ Thuận Thành Ký, một cự phú có hàng trăm ngôi nhà ở Hà Nội cũng về đây mua nhà mở hiệu kinh doanh. 

Vợ ông chủ Thuận Thành Ký xuất thân từ cô đầu nhưng nhờ tháo vát, nhanh nhẹn nên gia sản rất giàu có. Phố Hàng Giấy còn có nhà Dụ Lợi chuyển về mở hiệu kinh doanh thịt bò khô. Và kể từ đó trở đi, mặt hàng thịt bò khô đã xuất hiện ở đây cho tới tận ngày hôm nay. Nơi nào có tư sản, cự phú sinh sống thì không có đất cho cô đầu hoạt động. Vậy nên những tiệm hát ả đào dạt dần về Khâm Thiên, Thái Hà và Ngã Tư Sở.

Và từ đó trở đi, giới phong lưu Hà Thành có câu thành ngữ mới: “Giàu đến Khâm Thiên, ít tiền ra Vạn Thái, ngứa dái xuống Ngã Tư Sở”.

Sở dĩ có câu thành ngữ này là bởi xóm cô đầu Khâm Thiên còn giữ lại được những nét tinh túy của quán ca Hàng Giấy chuyển về. Khách đến Khâm Thiên cũng thuộc đẳng cấp khác. Đó là giới buôn có tiền hoặc tầng lớp có học. Họ chính là những “quan viên” phong lưu của ca quán truyền thống như các bậc túc nho Hoàng Tăng Bí, Doãn Kế Thiện, Nguyễn Đỗ Mục mà lối thưởng chầu vẫn còn “nhã” như xưa....

Thập niên 1930-1940, ngoại trừ xóm cô đầu Khâm Thiên còn giữ được đẳng cấp của ca quán phong lưu xưa. Các xóm cô đầu khác như Vạn Thái, Ngã Tư Sở, Gia Quất thì “hàng chợ” hơn rất nhiều do phải cạnh tranh dữ dội với “nhà số đỏ” (nhà thổ) nên giá vào cửa ngày một hạ. Mỗi chầu cô đầu ở Vạn Thái, Ngã Tư Sở hạ từ 3 đồng xuống có 1 đồng mà đã được ăn, được nghe hát, được chơi rồi. 

Sự xuất hiện của cô đầu rượu khiến thú nghe hát ả đào thành thú chơi cô đầu theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng. Vì thế, bệnh tật lây nhiễm qua con đường phong tình rất nhiều. Thôi thì đủ cả các loại bệnh từ tim la, lậu đến giang mai. Căn bệnh khó nói này âm thầm phát tán trở thành loại bệnh xã hội khá phổ biến thời bấy giờ. Ta có thể dễ dàng đọc được những dòng quảng cáo “Đặc trị giang mai - lậu” nhan nhản trên các tờ báo xưa. 
...

Tiếp quản Thủ đô năm 1954, sau đó là phát động “Đời sống mới” khiến thú tiêu khiển nghe hát ả đào dần mai một. Năm 1972, trận bom hủy diệt phố Khâm Thiên của không quân Mỹ đã xóa xổ các dấu tích cuối cùng của xóm cô đầu lừng danh đất Hà thành. Để rồi ngày nay câu chuyện về các xóm cô đầu chỉ còn được kể lại qua những trang sách mà thôi.

(Tác giả Tạ Thu Phong/ Tạp chí Phụ nữ Mới)