Điện ảnh Việt quá ít đất cho tài năng phim nghệ thuật

dien-anh-viet-qua-it-dat-cho-tai-nang-phim-nghe-thuat


Đừng vội nhìn vào mấy thống kê doanh thu phim trăm tỷ mà đã vội mừng hay ảo tưởng. Năng lực sản xuất của nền điện ảnh Việt vẫn còn quá thấp, lại phát triển lệch về dòng phim thương mại. Nhiều người tài, nhiều thế hệ đã mất cơ hội để thể hiện tài năng và cống hiến.


NĂNG LỰC SẢN XUẤT CỦA NỀN ĐIỆN ẢNH QUÁ KHIÊM TỐN


Việt Nam du nhập bộ môn nghệ thuật thứ 7 từ khá sớm, chỉ mấy năm sau khi điện ảnh khai sinh tại Pháp quốc, nhờ sự giao lưu văn hoá tất yếu với những người phương Tây sinh sống và làm việc trên đất thuộc địa.


Từ bộ phim truyện đầu tiên thực hiện ở Việt Nam - “Kim Vân Kiều” (1923) dựa trên truyện thơ của Nguyễn Du đến nay đã gần một thế kỷ. Trải qua bao biến động thời cuộc, từ nền diện ảnh sơ khai dưới thời thực dân, đến 2 nền điện ảnh Nam - Bắc song hành thời đất nước phân ly, sang thời kỳ thống nhất với nền điện ảnh hậu chiến - đổi mới và giai đoạn điện ảnh đương đại thế kỷ 21, những bộ phim Việt đã phần nào đồng hành và phản ánh chân dung cuộc sống và con người Việt Nam qua các giai đoạn.


Tuy nhiên, nền điện ảnh vẫn phát triển rất chậm. Gần 70 năm kể từ ngày thành lập ngành, điện ảnh Việt mới rón rén hội nhập thế giới với số phim đến với các LHP quốc tế hàng đầu chưa vượt nổi số ngón trên một bàn tay.


Một trong những chỉ dấu phản ánh chính xác là năng lực sản xuất của cả thị trường vẫn còn quá khiêm tốn. Ước tính, số phim truyện mà điện ảnh Việt Nam đã sản xuất trong cả chiều dài lịch sử của mình chỉ tương đương số phim của điện ảnh Mỹ trong một năm.


Cụ thể, theo thống kê qua các kỳ Liên hoan phim Việt Nam mà quy tụ hầu hết các tác phẩm điện ảnh được sản xuất (giai đoạn đầu chỉ có sự tham gia của điện ảnh miền Bắc), tổng số phim truyện điện ảnh góp mặt đến nay chỉ là hơn 300 phim. Giai đoạn điện ảnh miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng hoà, ước tính nhiều lắm cũng chỉ đạt được ngang con số này. Cộng với giai đoạn Pháp thuộc trước đó chắc chắn không thể đến 100 phim. 


Như vậy, cả chiều dài lịch sử 100 năm tồn tại và phát triển, điện ảnh Việt chỉ sản xuất trên 700 phim truyện điện ảnh chiếu rạp. Trong khi đó, theo Box Office Mojo, chỉ riêng trong năm 2017, điện ảnh Mỹ có 729 bộ phim đã ra mắt.


TÀI NĂNG XUẤT SẮC CẢ ĐỜI CHỈ LÀM 2 PHIM


Một trong những điều đáng tiếc nhất của thực trạng này là năng lực sản xuất của nền điện ảnh không đáp ứng nổi để dung dưỡng cho các tài năng trong nó. Dẫn đến có rất nhiều người làm phim có tài nhưng quá ít cơ hội được thể hiện. Mà khu vực đáng nói nhất là dòng phim nghệ thuật.


Đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn có thể coi là một trong những nhà làm phim tài năng nhất mà điện ảnh nước nhà sản sinh ra được. Chỉ cần với bộ phim truyền hình kinh điển Đất phương Nam (1997), ông xứng đáng là đạo diễn đáng kính của nền điện ảnh. Nếu điện ảnh Việt phát triển hơn, bộ phim ấy xứng đáng được bán ra nước ngoài và chiếu trên truyền hình các nước, truyền bá tích cực đất nước, con người, cảnh sắc và văn hoá Việt như cái cách những Oshin (Nhật), Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên (Mỹ)... đã làm được.


Thế mà, tài năng của ông không có nhiều cơ hội được sử dụng. Ông ra mắt với bộ phim đầu tay “Tuổi thơ dữ dội” (1988) được khen ngợi tích cực, nhưng trưởng thành trong giai đoạn cực thịnh của phim mì ăn liền đầu thập niên 1990. Ít có điều kiện làm những phim thể hiện tư tưởng, nhãn quan của nghệ sỹ đích thực, ông làm nhiều phim video để mưu sinh, nhưng những “Người hiệp sỹ cuối cùng”, “Cảnh sát hình sự” và “Giang hồ trinh nữ” ấy vẫn là những tác phẩm thị trường nghiêm túc, đáng xem. 


Những năm đầu 2000, Nguyễn Vinh Sơn từng được một hãng phim Pháp mời làm đạo diễn cho phim “Chuyện tình kể trước lúc rạng đông” (dựa trên truyện của Dương Thu Hương). Phim quay được nửa chừng thì bị dừng quay.


Mãi đến 2008, sau nhiều lần trồi sụt, lận đận (ông từng quyết định trả phim cho Hãng Giải phóng, không thể làm vì kinh phí quá eo hẹp), cuối cùng “Trăng nơi đáy giếng” ra đời và đích thị là một trong những bộ phim nghệ thuật nổi bật của điện ảnh Việt.


Nguyễn Vinh Sơn sau đó ấp ủ rất nhiều dự định. Ông từng chia sẻ mong muốn đưa “Tuổi 20 yêu dấu” (Nguyễn Huy Thiệp) và “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ” (Nguyễn Ngọc Thuần) lên phim, cũng như đã viết kịch bản bộ phim về cuộc đời vua Hàm Nghi, thế nhưng đến nay, 10 năm kể từ bộ phim gần nhất, ông vẫn chưa có cơ hội để làm thêm tác phẩm nào.


Đây quả thực là một điều đáng tiếc vô cùng khi mà, với tài năng ấy của mình, nếu sinh ra trong một nền điện ảnh phát triển hơn, Nguyễn Vinh Sơn đã xứng đáng có một sự nghiệp làm phim đáng kể hơn rất nhiều chứ không chỉ vỏn vẹn 2 đầu phim điện ảnh.


KHÔNG CÓ CƠ HỘI Ở ĐIỆN ẢNH, ĐÀNH LÀM PHIM TRUYỀN HÌNH


Cùng thời Vinh Sơn còn có nhà làm phim cũng rất tài năng và phẩm chất là đạo diễn Trần Mỹ Hà, một ví dụ cho việc điện ảnh đã không dung dưỡng được các tài năng của nó như thế nào.


Xuất thân quay phim rồi gặt hái thành công với phim tài liệu, gần 40 tuổi đạo diễn Trần Mỹ Hà mới làm phim video đầu tay năm 1995 mang tên “Giữa dòng”. Phim là câu chuyện giản dị về một cô giao liên (Ngọc Hiệp) sống một mình trên căn nhà nổi giữa sông, mảnh mai và quyết liệt cự tuyệt một thiếu uý Việt Nam Cộng hoà (Đơn Dương) yêu mình, để chung thủy với người chồng giả chết hoạt động cách mạng. Tại LHP Việt Nam lần thứ 11, phim đã đại thắng ở hạng mục phim video với giải Phim hay nhất, Đạo diễn, Nữ chính, Quay phim và Kỹ thuật xuất sắc nhất.


Ba năm sau, Trần Mỹ Hà làm phim điện ảnh đầu tay “Hải Nguyệt”, dựa trên kịch bản tuyệt hay của nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc. Phim do Hồng Ánh và Ngô Quang Hải đóng chính, lấy bối cảnh là một vùng biển nổi tiếng với nghề làm nước mắm ở Phan Thiết trong những biến động thời cuộc sau Giải Phóng. Trên nền câu chuyện xã hội phản ánh chân thực một giai đoạn lịch sử, là chuyện về nghị lực và sự vươn lên của con người, là những trải nghiệm và mất mát tình cảm lặng lẽ mà day dứt. Đây xứng đáng là một trong những bộ phim xuất sắc của điện ảnh Việt, dù nó dường như ít được biết đến và nhắc nhớ.


Trần Mỹ Hà còn có một phim video mà ông cho là tác phẩm tâm đắc nhất của mình là “Tiếng đàn kìm” quy tụ 4 gương mặt tài danh của điện ảnh Việt là Ngọc Hiệp, Đơn Dương, Ngô Quang Hải và Hồng Ánh. Tuy nhiên phim này bị kiểm duyệt, cấm chiếu và sau đó bị cắt gọt đi 1/3 và đổi tên thành “Chuyện ngã bảy” mà đạo diễn cho rằng không giữ được hồn cốt, chất lượng. (Về sau có xem phim này - “Chuyện ngã bảy” - khi nó được đưa lên Youtube thì thấy cũng không đặc sắc mấy, không biết bản phim gốc “Tiếng đàn kìm” khác những gì).


Tuy nhiên, sau bộ phim điện ảnh duy nhất, đạo diễn sinh năm 1956 này không có cơ hội làm thêm bất cứ phim chiếu rạp nào. Ông quay sang làm phim truyền hình dài tập đơn giản hơn cho đại chúng, và có những tác phẩm gây chú ý như “Blouse trắng”, “Hàn Mạc Tử”...


Trong những bài trả lời phỏng vấn hiếm hoi, ông thể hiện là một người hiểu biết, khiêm tốn và mang nhiều tâm tư của một trí thức. Rất tiếc là một người như vậy lại không tiếp tục có cơ hội thể hiện nhãn quan của mình với những tác phẩm điện ảnh nhiều suy ngẫm.


ĐẠO DIỄN PHIM NGHỆ THUẬT ÍT CƠ HỘI


Điện ảnh Việt đang phát triển thiên lệch. Không nói đến việc phim thương mại nở rộ hơn trong khi phim nghệ thuật thì ít ỏi (điều là lẽ thường ở mọi nơi) mà nói đến cơ hội nghề nghiệp cho các đạo diễn đi theo 2 dòng phim này chênh nhau rất lớn.


Nếu ở khu vực điện ảnh thương mại, những đạo diễn có nghề, có danh như Charlie Nguyễn, Victor Vũ, Nguyễn Quang Dũng, Vũ Ngọc Đãng... có cơ hội làm phim liên tục, thậm chí một năm làm 1-2 phim. Thì ở phạm vi điện ảnh nghệ thuật, ngay những người giỏi và có tiếng tăm nhất như Bùi Thạc Chuyên, Ngô Quang Hải, Phan Đăng Di, Nguyễn Hoàng Điệp... cũng phải rất chật vật trên con đường tìm nhà đầu tư cho các tác phẩm của mình.


Bùi Thạc Chuyên 7 năm trước có dự án “Ngủ mơ” hết dành giải tại LHP quốc tế Hồng Kông đến LHP quốc tế Rotterdam, Hà Lan mà đến nay vẫn chưa triển khai được. Đang trong giai đoạn sung sức (mới đây anh lại có dự án kế tiếp “Tro tàn rực rỡ” lọt vào The Atelier của LHP Cannes) mà cơ hội lại hiếm hoi, không biết liệu nhà làm phim 50 tuổi này sẽ làm được bao nhiêu phim cho đời.


Ngô Quang Hải cũng lận đận hết với dự án đầu tay “Chuyện tình kể trong đêm mưa” đổ bể, đến “Mùa hè lạnh” ấp ủ 6 năm mới thành phim. Sau màn ra mắt “Mùa hè lạnh” bị chê hội đồng từ cả giới chuyên môn lẫn khán giả (người hiếm hoi khen và thích bộ phim này là đạo diễn Đặng Nhật Minh. Theo lời kể của đạo diễn Nguyễn Vinh Sơn, tại Cánh diều Vàng năm 2013 mà cả 2 ông làm giám khảo, Đặng Nhật Minh hết sức bảo vệ phim này, nhưng không thắng được sự phản đối của toàn bộ các giám khảo còn lại), lại 6 năm nữa anh im hơi lặng tiếng, trong khi cũng ôm ấp một loạt các dự án.


Phan Đăng Di và Nguyễn Hoàng Điệp năm 2017 cũng đều có kế hoạch quay các phim tiếp theo (Di quay “Tiệc trăng tròn” còn Điệp quay “Câu chuyện buồn nhất thế gian”) nhưng hết nửa năm 2018 vẫn chưa thấy triển khai.


Nhìn sang những nền điện ảnh phát triển, những đạo diễn của dòng phim art house như Woody Allen, Martin Scorsese... của Mỹ, Kim Ki Duk, Hong Sang Soo... của Hàn Quốc, hay Vương Gia Vệ, Hầu Hiếu Hiền... của điện ảnh Hoa ngữ trong thời sung sức (thậm chí kể cả khi già) vẫn đều đặn ra phim mới hàng năm.


NHIỀU NGƯỜI GIỎI KHÔNG CÓ DỊP THỂ HIỆN MÌNH


Dù sao, những đạo diễn trên cũng còn có cơ hội lộ sáng. Có những người còn không có may mắn được thể hiện mình, dù hứa hẹn tài năng. Một trong số đó là Nguyễn Hà Phong, người được biết đến qua 2 vai diễn trong 2 bộ phim của Phan Đăng Di: Vai bố cu Bi trong “Bi, đừng sợ” và vai bố chàng thanh niên Vũ trong phim “Cha và con và...”.


Hà Phong từng có phim ngắn “Sân thượng” thuộc dự án Master Class năm 2006 của Trung tâm Hỗ trợ và Phát triển tài năng điện ảnh TPD. Bộ phim tối giản nhiều chiêm nghiệm này từng dành giải Nhì tại LHP ngắn quốc tế Oberhausen của Đức, một trong những LHP ngắn lâu đời và uy tín nhất trên thế giới.


Năm 2013, anh từng hào hứng chia sẻ nhiều với người viết về dự án phim dài đầu tay từ kịch bản tự viết “Những người đàn bà ăn đất”, nhưng cho đến nay sau 5 năm vẫn chưa thấy sủi tăm.


Khá hơn Hà Phong nhưng cũng không kém lận đận là đạo diễn Việt kiều Nguyễn Đức Minh. Năm 2012, anh mang bộ phim đầu tay “Touch” (Chạm) quay bên Mỹ về nước ra mắt và gây bất ngờ cùng cảm tình rất lớn trong báo giới Việt Nam. Bộ phim độc lập kinh phí siêu thấp này (200.000 USD ở Mỹ) được làm từ một nửa số tiền là do anh dành dụm và một nửa từ huy động bạn bè. Câu chuyện về cô gái làm nail tên Tâm đầy gợi cảm, dịu dàng và “chạm” sâu y như cái tên của nó. 


Phim thành công khi được ghi nhận, anh lập tức được một hãng phim quyết định đầu tư cho dự án thứ 2 - “Kỹ nữ máu và tình yêu xanh”. Bộ phim đã công bố casting rộng rãi và ấn định ngày quay năm 2013 cùng thời điểm ra mắt năm 2014, mà sau đó dự án đổ bể không một lời giải thích.


Trước đó, cũng cần tiếc nuối cho một người tài là nữ nhà văn - đạo diễn Đoàn Minh Phượng. Năm 2005, chị ra mắt bộ phim Hạt mưa rơi bao lâu (Trương Ngọc Ánh, Như Quỳnh đóng) do mình viết kịch bản và đồng đạo diễn cùng em trai Đoàn Thành Nghĩa. 


Phim đã đi hơn 20 LHP quốc tế và dành khá nhiều giải thưởng. Dù người viết chưa có cơ hội xem phim, nhưng với những gì tác giả thể hiện qua tác phẩm văn học xuất sắc “Và khi tro bụi”, có thể tin rằng tin phim chị có chất và đáng xem.


Ngay sau tác phẩm đầu tay ấp ủ 10 năm mới hoàn thành ấy, Đoàn Minh Phượng đã sẵn sàng cho dự án tiếp theo là “Nguyên tiêu”, dựa trên kịch bản do chính chị viết, đã dành được giải thưởng Hubert Bals nổi tiếng của Hà Lan. 


Phim đã được lên lịch quay vào mùa thu năm 2006 thế mà không hiểu lý do gì bị dừng lại. Để đến nay, sau 12 năm, chị Phượng vẫn chưa có cơ hội làm thêm bất cứ phim nào nữa.


Một trường hợp khác cũng đáng tiếc là Nguyễn Quốc Hưng, người rất tài năng và nhân cách nhưng chưa một lần được làm phim điện ảnh. 


Tốt nghiệp Cao học Điện ảnh tại Ấn Độ, anh được Hãng phim truyền hình TPHCM TFS trao cơ hội làm phim video “Tôi vào đời” (2000). Đây là một phim độc lập đúng nghĩa, với câu chuyện đời thường, giản dị về những số phận nhỏ nhoi trong xã hội. Kìm nén, rưng rưng chứ không mê lô lấy nước mắt nhưng phim có sức công phá cảm xúc rất mạnh, cho thấy một bản lĩnh đạo diễn. Một trải nghiệm hết sức cá nhân (của người viết), phim này cùng “Đất phương Nam” là tạng phim khiến tin và yêu luôn được người làm phim, dù chưa biết gì về họ.


Sau đó mấy năm, Quốc Hưng làm một phim truyền hình dài tập rất thành công là “Ngọn nến hoàng cung” xoay quanh cuộc đời vua Bảo Đại. Phim này ngược hoàn toàn với “Tôi vào đời” khi là phim bom tấn, lại làm về cuộc đời những người ở tầng lớp cao nhất, nhưng giống ở điểm đều là phim chất lượng. 


Tuy nhiên, sau đó, anh không tiếp tục làm phim mà tập trung cho vai trò biên tập phim ở hãng TFS, chỉ quay thêm một phim nữa là “Cỏ biếc” cũng được khen. 


Quốc Hưng từng trả lời phỏng vấn rằng “Làm phim với tôi là một cái gì đó rất thiêng. Phim ảnh như một ngôi đền mà khi bước vào đó, bàn chân mình phải sạch”. Tiếc là, với cả tài năng và tâm thế hơn người như thế, anh không có dịp mang vào phim điện ảnh để làm đẹp hơn cho đời.

Hoàng Lê


(Bài viết tháng 4/2018, gửi nhiều báo nghiêm túc, nhưng không được đăng ở đâu. 


Trong bài có thông tin, ước tính số phim Việt Nam được sản xuất trong suốt chiều dài lịch sử là khoảng hơn 700 phim. Sau này, vào tháng 5/2018, khi anh Lê Hồng Lâm công bố dự án 101 phim Việt hay nhất, có ước tính Việt Nam xưa nay có khoảng 1.000 phim. 


Chả biết con số chính xác là bao nhiêu, vì các thống kê đều chỉ là áng khoảng. Nhưng tôi không sửa bài, vẫn để nguyên con số 700 phim như khi viết cách đây 4 tháng).


P/s: Sau khi thống kê áng khoảng lại, tôi nghĩ điện ảnh Việt có chừng 1.000 phim đã sản xuất.