Điện ảnh Việt đã bỏ lỡ “thời cơ vàng” thập niên 1990

dien-anh-viet-da-bo-lo-thoi-co-vang-thap-nien-1990

Công Hậu và Mộng Vân trong “Lửa cháy thành Đại La”

Những năm đầu thập niên 90, chúng ta có một thị trường điện ảnh nội địa phát triển mạnh mẽ. Rất tiếc, thiếu vai trò dẫn dắt khôn ngoan của những người có trách nhiệm, điện ảnh Việt đã để lỡ mất “cơ hội vàng” đi lên từ thực tế này.

Hoạt động của khu vực điện ảnh tư nhân được đánh dấu mốc bằng sự kiện Bộ Văn hoá - Thông tin (tiền thân của Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch) quyết định cho phép thành lập các hãng phim tư nhân năm 2002.

Thế nhưng, trên thực tế, từ trước đó hơn 10 năm đã có rất nhiều hãng phim tư nhân hoạt động tích cực trong lĩnh vực sản xuất phim ảnh. 

Điển hình có thể kể đến các hãng phim như Phương Nam Phim, Hãng phim Trẻ, hãng phim Lý Huỳnh của gia đình nghệ sỹ Lý Huỳnh, hãng phim Hai Nhất cũng của một diễn viên cùng tên khá quen mặt, nhà sản xuất kiêm nhà phát hành Thái Hoà nổi tiếng hàng đầu... 

Những năm đó, thời cực thịnh của dòng phim thương mại, theo một chia sẻ của cố đạo diễn - NSND Huy Thành (trong cuốn sách: “Điện ảnh không phải là trò chơi” tập hợp những bài đăng báo của nhà báo điện ảnh nổi tiếng thập niên 1990 Trần Tuấn Hiệp), ước tính tư nhân đã bỏ ra mỗi năm 10-15 tỷ đồng để làm phim. Đây một con số rất lớn thời đó (đầu những năm 90), nếu biết rằng kinh phí làm phim trung bình từ 150 - 200 triệu đồng/phim video (*), 300 - 500 triệu đồng/phim nhựa (tư nhân chủ yếu làm phim video).

Nhìn lại lịch sử, thấy điện ảnh Việt đã bỏ lỡ một cơ hội vàng để phát triển, mà nếu hồi đó tận dụng tốt nó, chúng ta có lẽ đã đi xa, đi nhanh hơn rất nhiều.

THỜI KỲ RỰC RỠ CỦA ĐIỆN ẢNH THƯƠNG MẠI

Phim thương mại được khởi xưởng bởi các nhà làm phim tư nhân từ cuối thập niên 1980. Khi ấy, hoà trong không khí “đổi mới” thời đất nước mở cửa, điện ảnh đã có sự thích nghi rất nhanh nhạy và tích cực. Quyền làm phim không còn là “độc quyền” của nhà nước như trước đó, mà các đơn vị bên ngoài (tư nhân, liên doanh, nước ngoài) cũng được phép tham gia.

Như một nồi khí nén lâu ngày được bung tỏa, điện ảnh Việt sản xuất phim ồ ạt. Những năm 90-95, mỗi năm có hàng chục, thậm chí có năm cao điểm như 1992 lên tới 70 phim (**) ra mắt. Trung bình tháng nào cũng có 4-5 phim mới xuất hiện, tạo nên một thị trường điện ảnh đặc biệt sôi động.

Không chỉ đông đúc về số lượng, dòng phim thương mại hồi đó còn rất phong phú về thể loại và cực kỳ thu hút khán giả. Từ tình cảm, hài hước, kinh dị đến võ thuật, cổ trang... các nhà làm phim đã thỏa mãn và mở rộng thị hiếu của khán giả vốn trước đó chỉ chủ yếu được xem những phim chiến tranh, tâm lý chính kịch của điện ảnh nhà nước.

Hồi ấy, những phim như Sau những giấc mơ hồng, Nước mắt học trò... doanh thu cao chót vót, gấp 8-10 lần kinh phí. Số lượng các phim doanh thu gấp 3-5 lần số tiền bỏ ta làm phim là rất nhiều, dù bên cạnh (tất nhiên) cũng có nhiều phim thất bại.

Sự phát triển của thị trường tạo ra một thế hệ diễn viên ngôi sao, trở thành thần tượng của công chúng, thậm chí thành biểu tượng đến mức hàng chục năm sau vẫn được nhắc nhớ.

Những Lý Hùng - Diễm Hương, Việt Trinh - Lê Tuấn Anh, Lê Công Tuấn Anh - Thu Hà là những gương mặt bảo chứng doanh thu, lôi kéo khán giả không khác gì điều những đồng nghiệp của họ bên các thị trường điện ảnh phát triển như Hồng Kông, Mỹ quốc... làm được. Bên cạnh những ngôi sao sáng nhất dòng phim nghệ thuật thời đó, như Đơn Dương - Ngọc Hiệp, Thiệu Ánh Dương - Mỹ Duyên (và Ngô Quang Hải - Hồng Ánh nửa sau thập kỷ), họ xứng đáng là những gương mặt nổi bật trong bức tranh điện ảnh Việt thập niên 90.

Đó có thể nói là thời kỳ hoàng kim của điện ảnh thị trường Việt Nam. 

DÒNG PHIM “MÌ ĂN LIỀN” NÊN ĐƯỢC NHÌN NHẬN LẠI

Thế nhưng, hồi đó bên cạnh bản hoà ca tung hô các ngôi sao của thị trường phim ảnh, nhiều tờ báo (hay chính xác hơn là một số cây bút nghiêm túc ở các toà báo) đã tỉnh táo gọi dòng phim của họ là “phim mì ăn liền” theo nghĩa miệt thị về giá trị.

Đến nay, sau một độ lùi thời gian nhất định, có lẽ cũng nên nhìn nhận lại khách quan hơn về vai trò và vị trí cũng như giá trị của dòng phim này.

Trước hết, chất lượng nghề nghiệp và nội dung của chúng không đến nỗi quá tệ. Trừ một lượng phim nào đó xứng đáng bị chê bai, đa số chúng đạt yêu cầu so với đòi hỏi của thể loại. 

Phim tình cảm thì trai xinh, gái đẹp, tình tiết éo le, tay ba tay tư. Phim võ thuật cổ trang thì trai anh hùng, gái thuyền quyên, ngựa xe phục trang lộng lẫy, nội dung yêu chính diệt tà. Phim kinh dị cài cắm tình tiết cao trào, nút thắt nút mở. Phim hành động hay hài thì cũng đủ những màn biểu diễn mãn nhãn hay những chi tiết, tình huống gây cười... Tóm lại là, chúng được làm phù hợp với thể loại, và vì thế, cũng phải đánh giá chất lượng theo thể loại của chúng.

Chúng có giá trị riêng, phục vụ nhu cầu giải trí của khán giả - một nhu cầu rất lớn của đại chúng, và quan trọng hơn, mang lại doanh thu nuôi sống thị trường.

Tội của dòng phim “mì ăn liền” chỉ là vô thưởng, vô phạt, né tránh những vấn đề xã hội, thờ ơ hiện thực - điều là nhiệm vụ của dòng phim chính luận nghiêm túc. Rất tiếc, hồi đó, chúng ta chưa cởi mở và chưa nhận thức đúng đắn về sự tách bạch này. Phim thương mại, sau giai đoạn làm mưa làm gió, vì thế đã bị giới phê bình có phần ghẻ lạnh và giới quản lý không có định hướng ủng hộ, cổ vũ. 

Có thể nói, các nhà quản lý điện ảnh Việt Nam khi ấy đã chưa có tầm nhìn để khuyến khích, định hướng phát triển lành mạnh dòng phim thị trường, nên bỏ lỡ một dịp tốt để phát triển nền điện ảnh từ cách đây 25 năm.

Không có hướng đi đúng đắn, làn sóng phim thương mại hồi ấy không duy trì được đường dài, mà lên đỉnh rồi thoái trào. Để đến nỗi thị trường đang từ cực kỳ sôi động mà chỉ trong vài năm lại trở thành đìu hiu, đến mức rơi vào khủng khoảng suốt một thời gian dài.

Người ta đổ lỗi cho phim thị trường, gọi là phim mì ăn liền. Trong khi đó, so các tác phẩm phim giải trí bây giờ, kể cả nhiều phim nổi bật nhất cũng chẳng hơn gì đa số phim bị gọi là “mì ăn liền” ngày xưa. Điện ảnh Việt đáng lẽ trong hơn 20 năm qua đã đi rất xa, thế mà khựng lại, có giai đoạn chết lâm sàng, để rồi sau đó (cách đây 15 năm) mới quay trở về vạch xuất phát để làm lại từ đầu.

Một vấn đề đáng nói, hồi ấy có sự phân biệt đẳng cấp rất rõ ràng giữa phim Nghệ thuật và phim Thương mại. Những phim giải trí dù ăn khách, và chất lượng trong thể loại của nó, ví như Tây Sơn hiệp khách, Người hiệp sĩ cuối cùng... cũng đừng hòng bao giờ có cửa cạnh tranh, chứ không nói là đoạt giải tại các giải thưởng điện ảnh chuyên môn.

Trong khi đó, bây giờ, lại một lần nữa chúng ta đi chệch hướng. Dòng phim thị trường lại hơi bị chiếm thế thượng phong khi dễ dàng được khen hết lời (dù mới chỉ tốt trong thể loại của mình), thậm chí lên ngôi tại các giải thưởng điện ảnh.

Cả 2 cách ứng xử, miệt thị dòng phim mì ăn liền như trước đây hay dễ dàng tôn vinh nó như hiện nay đều không phải là cách nhìn nhận chính xác, không đặt chúng đúng bị trí của mình. Chúng ta đã từng một lần vì quá tả mà mất đi cơ hội. Đừng lần nữa quá hữu mà thiếu định hướng đúng cho nền điện ảnh lần thứ 2.

Hoàng Lê (Bài tháng 4/2018)

Chú thích:

(*): Phim video: Là phim thời lượng khoảng 90 phút, giống như phim truyện nhựa, nhưng được làm trên chất liệu rẻ tiền hơn là chất liệu video. 

Phim video ở thập niên 1990 của điện ảnh Việt không chỉ chiếu trên màn hình nhỏ bằng các cuộn băng hình, mà đa số được mang chiếu rạp như phim truyện nhựa.

(**): Con số phim sản xuất lên đến gần 70 phim/năm này không mâu thuẫn với con số ước tính cả chiều dài lịch sử nền điện ảnh chỉ sản xuất khoảng trên 700 phim ở bài “Điện ảnh Việt quá ít đất cho tài năng phim nghệ thuật”. Vì ở vế đầu tính phim video, ở vế sau chỉ tính phim truyện nhựa (mà giờ mở rộng gọi là phim điện ảnh).