Di sản nhiệm kỳ nhìn từ quan tây và quan ta

di-san-nhiem-ky-nhin-tu-quan-tay-va-quan-ta

● Người phương Tây có một từ dùng để chỉ thành quả mà các nhà lãnh đạo để lại cho xã hội, đó là từ “Di sản nhiệm kỳ” (Legacy – kế thừa phi vật chất) để phân biệt với di sản xã hội, kinh tế (Heritage – kế thừa vật chất)

Trong nhiệm kì 5 năm của mình ở Đông Dương, quan toàn quyền Pôn Đu-Me đã thực hiện các dự án cơ sở hạ tầng đầy tham vọng như tuyến đường sắt xuyên Đông Dương, cảng Hải Phòng, cầu Long Biên và biến Hà Nội thành nơi được chiếu sáng bằng đèn điện đầu tiên ở châu Á. Chúng là di sản của nước Pháp, như những gì mà Pôn Đu-Me đã đề cập đến trong các tài liệu của mình, sứ mệnh của Đế quốc Pháp là khai phá và chinh phục.

Ông từng có nhận xét về các chủng tộc châu Á như sau: “Giữa họ vẫn có những nét tương đồng như người trong cùng một phả hệ, cùng có sự nhẹ nhàng, yếu đuối, điều này tạo nên một số phận chung giữa họ. Đó là các dân tộc bị chinh phục, các tộc người bị chế ngự mà ta thống trị không mấy khó khăn”.

● Sẽ là thiếu công bằng nếu ta đem so sánh nhiệm kì 5 năm của toàn quyền Pôn Đu-me với những nhiệm kì 5 năm của lãnh đạo Việt Nam trong khoảng 2 thập niên trở lại đây, dù rằng có thể nói sự so sánh đó là rất thú vị. Vì sao ta nói như vậy?

Qua 4 đời Bộ trưởng mà Hà Nội vẫn chưa xây xong đường sắt Hà Đông- Cát Linh, và có lẽ phải mất nhiều đời bộ trưởng hay chủ tịch TP thì dự án cao tốc Bắc Nam may ra mới có thể thành hình và giữa hình thức và độ khả dụng thì vẫn còn là cả một chặng đường dài. Có thể xây xong rồi mà lại không sử dụng được.

Sự khác biệt đầu tiên giữa Pôn Đu-me và các lãnh đạo ở Việt Nam, đó chính là ở vốn "kĩ năng". Ta cần nhớ rằng, trước khi Pôn Đu-me sang Đông Dương thì đế quốc Pháp đã thực hiện những dự án của Thế kỉ như đào kênh Xuy-Ê đi xuyên qua hai lục địa. Người Pháp không ngừng củng cố uy tín cũng như sự cai trị ở khắp thế giới thông qua những dự án lớn, nơi mà hẳn nhiên có sự tính toán và hiểu biết sâu sắc về chính trị, xã hội, về nguồn vốn và cả sức mạnh của các hạm đội. Cảng Hải Phòng sau này cũng đã được xây dựng dựa trên hình mẫu là cảng Mác-Xây chứ không phải dựa trên niềm tin mơ hồ.

Pôn Đu-me đã trưởng thành trong cái bầu không khí đó, nơi mà lòng ái quốc và tự tôn dân tộc được xây đắp trên một nền tảng sâu rộng về kiến thức chính trị, kinh tế và kĩ năng vận hành xã hội. Ở Đông Dương, ông tiến hành cải cách hành chính và thiết lập bộ máy cai trị chặt chẽ. Điều hiển nhiên sau đó xảy ra, hàng loạt các dự án lớn được hình thành bằng thợ thuyền người bản địa với mức thuế "cắt cổ".

Còn ở Việt Nam ta ngày nay thì sao? có bất cứ Bộ nào, Ngành nào nắm được công nghệ gì không? Có đủ kinh nghiệm để tự làm các dự án tham vọng nào không?. Làm gì ta cũng thiếu chuyên gia, thiếu nhân công, chỉ có đúng một thứ thì rất thừa đó chính là những “nhà lãnh đạo”. Do vậy, so sánh “kĩ năng” của một chính trị gia Pháp 100 năm trước với các chính trị gia Việt đương thời thì vẫn còn khập khiễng lắm, khoảng cách đó là hàng trăm năm của nền văn minh mà không dễ gì có thể san lấp ngay được. Ta khó trách lãnh đạo nhà là vì thế, bởi có thể khẳng định rằng “kĩ năng” là thứ có thể cải thiện theo thời gian.

● Tuy vậy, ngoài “kĩ năng” ra, còn có một khác biệt nữa to lớn hơn nhiều.

Cầu, cảng mà Pôn Đu-me để lại ở Việt Nam, trên thực tế, là di sản của nước Pháp bởi hệ thống cơ sở hạ tầng vĩ đại mà ông chủ trì được xây dựng để kiện toàn bộ máy cai trị và khai thác các xứ thuộc địa. Cũng giống như khi người Pháp đào kênh Xuy-Ê, kênh đó không dành cho người Ai-Cập, nó là một điểm quan trọng để kiểm soát giao thương, củng cố sức mạnh của các hạm đội Pháp, nó là di sản của Đế quốc Pháp.

Đến đây, có một yếu tố bao trùm khiến cho Pôn Đu- me trở nên rất khác biệt với các nhà lãnh đạo VN đương thời. Khác biệt ấy vượt lên trên mọi khác biệt về sự hiểu biết, kĩ năng hay vốn kiến thức, đó chính là sự sai khác về tư tưởng. Ở Pôn Đu-me, ta nhận thấy đó là lòng ái quốc sâu sắc mà ông dành cho Tổ quốc của ông. Tình cảm ấy mới là thứ khiến người ta có động lực và hoàn thành sứ mệnh của mình, bất kể rằng nó cũng gây ra nhiều bi kịch thảm thương tại các thuộc địa.

Trong chuyến hành trình bằng tàu biển vượt đại dương để đến xứ Đông Dương, tàu của Pôn Đu-Me gặp một tàu khác đi ngược chiều, con tàu ấy chở thi hài của Ác-măng Ru-xô (người tiền nhiệm của Pôn, vừa chết ở An Nam) cùng gia quyến. Ông đã làm một bài thơ:

“Những ai đã ngã xuống cho Tổ quốc trường tồn

Xứng đáng được dân chúng đến quan tài cầu nguyện và đưa tiễn.

Tên của họ làm lu mờ cả những cái tên đẹp nhất

Mọi ánh hào quang xung quanh họ rồi sẽ tắt

Nhưng cả dân tộc này sẽ cất lên tiếng hát

Như lời mẹ ru họ yên giấc dưới những nấm mồ xanh”

●Không phải là “kĩ năng” hay vốn hiểu biết, chính "lòng yêu nước" và sự tận tâm phụng sự Tổ quốc mới làm nên điều khác biệt giữa Pôn Đu-me và những nhà lãnh đạo ở VN hơn 100 năm sau. Người Pháp ca ngợi ông bởi Di sản mà ông để lại là Chủ nghĩa yêu nước chứ không chỉ đơn thuần là hệ thống hạ tầng thế kỉ mà ông góp phần xây dựng ở xứ thuộc địa để làm giàu cho nước Pháp. 

Ảnh trên- Kênh đào Xuy-Ê được hãng Pháp xây dựng bằng nhân công Pháp, ảnh dưới – Cầu Pôn Đu-me tại Hà Nội được hãng Pháp xây dựng bằng nhân công thuộc địa, sau này đổi tên thành cầu Long Biên.