Chém gió về từ “Lạc Việt”

chem-gio-ve-tu-lac-viet

120 năm trước (1899) học giả Vương Ý Vinh (王懿荣 Wang Yirong) đầu tiên phát hiện chữ Giáp Cốt甲骨文 và đoán đây là chữ đời Thương. Phát hiện này đặt nền móng vững chắc cho việc nghiên cứu chữ viết thời thượng cổ ở TQ.

Năm 2006 tại di tích Cam Tang-Bình Quả (Quảng Tây) giới khảo cổ lại phát hiện chữ Lạc Việt khắc trên đá – thêm một vật chứng lịch sử nữa chứng minh sự tồn tại nền văn minh thượng cổ Trung Hoa (ảnh 1). Có người TQ nói đây là phát hiện lớn nhất thế kỷ XXI về chữ viết.

Giám định đồng vị carbon-14 cho thấy  chữ Lạc Việt khắc đá xuất hiện vào khoảng 3600 năm trước, nghĩa là sớm hơn chữ Giáp Cốt. Nghiên cứu sơ bộ cho thấy loại chữ này có cùng nguồn gốc với chữ Giáp cốt của người Hoa Hạ, là nguồn gốc chữ tượng hình. Có chuyên gia nói đây là loại chữ biểu ý.

Trước đây chỉ mới biết chữ Giáp Cốt của văn hóa Trung nguyên (Hoa Hạ), văn hóa miền bắc, cho nên người TQ tự nhận là con cháu của Rồng (Long Truyền nhân), văn hóa Trung Hoa gọi là Văn hóa Rồng. Nay có thêm chữ Lạc Việt khắc trên đá của văn hóa miền nam, hai loại chữ này đại diện cho văn hóa miền bắc và văn hóa miền nam hòa trộn thành văn minh Trung Hoa. Từ nay trở đi  “Long Lạc Truyền nhân龙骆传人” trở thành tượng trưng của dân tộc Trung Hoa, thay cho “Long truyền nhân”, văn hóa Trung Hoa đổi là văn hóa Long Lạc, người TQ là “Long Lạc Truyền nhân”.  

Trình độ chín muồi của chữ Lạc Việt khắc đá rất gần gũi với chữ Giáp Cốt thời vương quốc Ân-Thương.

Phát hiện Chữ Lạc Việt khắc đá cũng trải qua tranh cãi đã hơn chục năm, tổng kết lại có 3 quan điểm khác nhau: Một quan điểm cho đây là chữ viết thời Tiên Tần; một quan điểm cho là chữ cổ của tổ tiên dân tộc Tráng ở miền nam TQ; một quan điểm cho là chữ do dân tộc Lạc Việt cổ sáng tạo. 

Gần đây sử gia nổi tiếng Hoàng Ý Lục, chuyên viên nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Tráng-Đồng Học thuộc Đại học Dân tộc TQ xuất bản sách « Lạc Việt sử », mạnh dạn đưa ra những quan điểm và kết luận độc đáo khác với các sử gia trước đây..

Có nhiều giả thiết về gốc tích của cái tên Lạc Việt. Một quan điểm tương đối nhất trí cho rằng Lạc Việt là một Phương quốc do một liên minh bộ lạc họp thành, là một nhánh trong nhiều nhánh của Bách Việt. Hai nhánh Tây Âu, Lạc Việt là tổ tiên chung của các dân tộc Tráng, Đồng, Lê, Bố Y, Thái, Mao Nam, Mục Lão. Phạm vi của cổ quốc Lạc Việt gồm: phía bắc từ lưu vực Hồng Thủy Hà ở Quảng Tây ; phía tây từ phần đông nam cao nguyên Vân Quý ; phía đông nam đến lưu vực sông Hồng Việt Nam. Đầu nguồn và trung tâm của văn hóa Lạc Việt thì ở TQ ; phần chủ thể cũng ở TQ. Quốc đô đầu tiên hoặc điểm trung tâm của cổ quốc này thì ở Nam Lộc Đại Minh sơn Vũ Minh武鸣大明山南麓. 

Tra cứu thư tịch cổ, có thể thấy người Lạc Việt chủ yếu cư trú ở lưu vực sông Tả Hữu và miền tây nam Quý Châu cùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Vùng đó là nơi gặp nhau của các luồng giao lưu giữa Trung nguyên với Hoa Nam và Tây nam, có nhiều dân tộc tạp cư lâu dài cho nên văn hóa có sắc thái đa nguyên. Trong đó văn hóa đồng thau (thanh đồng) của vùng này thể hiện rõ nhất đặc điểm phát triển tự thân của văn hóa Lạc Việt. 

Một quan điểm cho rằng chữ Lạc 骆 xuất hiện trong các trường hợp sau. 

Cái tên Lạc Việt 骆越xuất phát từ việc khẩn thực « Lạc điền 雒田»). Sách « Thủy Kinh Chú »  của Lệ Đạo Nguyên郦道元《水经注》quyển 37, điều Diệp Du Hà 叶榆河条 dẫn “Giao Châu Ngoại vực ký” nói: Khi Giao Chỉ chưa lập quận huyện, ruộng đất có Lạc Điền, loại ruộng này tùy theo nước triều lên xuống mà dân chúng khẩn thực ruộng đó, vì thế có tên Lạc Dân ». Ở đây chưa thấy ai giải thích 垦食 là gì? Nước triều gì vậy ? Nếu là nước biển mặn thì sao mà trồng lúa được ? 

Có người nói đây là nói « Lộ điền », do lẫn lộn giữa chữ Lộ 路với chữ Lạc骆 hoặc 雒. Lộ điền có thể là ruộng bậc thang ?

Trong Hán ngữ, Lạc 雒 và Lạc 骆như nhau雒与骆通. Lạc Dân là dân Lạc Việt, là người Giao Chỉ khẩn thực Lạc điền雒田. 

Thậm chí chữ Lạc 骆vốn là chữ Lộ路. “Dật Châu Thư” viết: “Lộ nhân đại trúc路人大竹”. Bốn chữ này được hiểu là : những « Lộ nhân路人 » quyên hiến (cống贡) đại trúc tức là Lạc Nhân 骆人. Tạm hiểu đó là những Lạc dân đã quyên góp tre bương (đại trúc) để chính quyền lót đường cho xe chạy. Sách viết « Lộ nhân » nhưng phải hiểu là « Lạc nhân ». Có thể do nhầm lẫn giữa hai chữ Lộ và Lạc, vì chỉ khác nhau ở bộ thủ bên trái – chuyện thường tình trong chữ Hán.

“Lã Thị Xuân Thu-Bản vị thiên” và Chi Mỹ Vị giả có “Việt Lạc chi khuẩn越骆之菌”, chắc là món nấm hương của Việt Lạc, vì xứ này (Quảng Tây) mới có nấm hương, món ăn ngon trong bếp núc cung đình. (Những năm 70 người VN ta hay mua nấm hương ở Khách sạn Bắc Kinh tại Moskva gửi về nhà, chứng tỏ TQ sẵn nấm hương). 

« Cao Dụ chú » nói: “Việt Lạc, quốc danh », tức « Việt Lạc là tên nước ». Việt Lạc là cách viết đảo thứ tự của từ Lạc Việt. Trong « Thủy Kinh Chú » bản cũ viết « Lạc Việt » thành « Việt Lạc », như « Ôn Thủy » hạ viết : « Cái tịch độ đồng cổ tức Việt Lạc dã ». Lại như trong sách « Diệp Du Hà » hạ viết : « Kích ích châu thần sở tương Việt Lạc vạn dư nhân ». 

Từ đó có thể thấy Việt Lạc tức là Lạc Việt, vốn là biệt danh của Việt. « Sử ký – Nam Việt liệt truyện » chép thư Triệu Đà dâng lên Hán Văn Đế : « Thả nam phương ti thấp, man di trung gian, kỳ đông Mân Việt thiên nhân chúng hiệu xưng vương, kỳ Tây Âu, Lạc lõa quốc (hai chữ Lạc Lõa thực ra là chữ Hán dịch từ Điểu điền trong Tráng ngữ) diệc xưng vương. » . Câu này cụ Phan Ngọc dịch là « Vả lại phương nam đất thấp, ẩm, dân man di ở vào giữa. Ở phía đông đất Mân Việt chỉ vẻn vẹn nghìn người cũng xưng hiệu là ‘Vương’ ; ở phía tây, nước Âu Lạc [VN ?] là nước trần truồng [thực ra là đóng khố] cũng xưng là ‘Vương’ ». Khi Vũ Đế bình định Nam Việt, « Việt Quế Lâm giám cư Ông Dụ cáo Âu Lạc thuộc Hán », đắc phong Hầu. « Lạc » trong đó tức là Lạc Việt.

« Hậu Hán Thư – Mã Viện liệt truyện » chép : « Viện háo kỵ, thiện biệt danh mã, ư Giao Chỉ đắc Lạc Việt đồng cổ, nãi đào vi mã thức, hoàn thướng chi ». Tạm dịch : Mã Viện thích cưỡi ngựa, thạo cách phân biệt ngựa nòi (danh mã), sau khi lấy được trống đồng từ Giao Chỉ đã đem đúc thành ngựa đồng, Viện còn cưỡi lên ngựa đồng.  

Khi ấy cái tên Lạc Việt mới chính thức xuất hiện trong các thư tịch TQ. Về từ Lạc Việt, trong « Hậu Hán Thư – Mã Viện liệt truyện », Lý Hiền có ghi chú : « Lạc giả, Việt biệt danh ». Tạm dịch : Lạc là biệt danh của Việt. Khó hiểu.

Hiện nay sử học TQ còn chưa có các phát hiện khảo cổ hoàn chỉnh chữ viết tiêu biểu nhất có thể chứng minh các điều nói trên về Lạc Việt cũng như quốc đô, văn hóa của Lạc Việt. Đây thực là thiếu sót lớn cho việc nghiên cứu lịch sử Lạc Việt, khiến cho sử học TQ còn thiếu căn cứ để đưa ra định nghĩa khoa học về lịch sử Lạc Việt và văn hóa Lạc Việt. 

Vả lại cũng chưa ai giải mã được những chữ Lạc Việt khắc trên đá mới phát hiện năm 2006. Do đó chưa nên vội kết luận về nguồn gốc bộ tộc Lạc Việt, nhất là mối quan hệ giữa người Lạc Việt với người Việt Nam. Từ "Việt nhân" không có trong danh sách các dân tộc TQ. "Cổ Việt nhân" lại càng là khái niệm mù mờ. Có thể là người nước Việt của Câu Tiễn. Trong "Chiến quốc thất hùng" có nước Hàn, và "Hàn quốc nhân", nhưng người Korea hiện nay không nhầm lẫn nhập nhèm với Korean. Vì thế cũng nên chớ nhậm "Việt nhân" với Vietnamese.

Nhìn chung, nghiên cứu lịch sử không thể vội. Hấp tấp kết luận thì sẽ dễ sai lầm. Năm 1983 Quảng Châu phát hiện mộ vua Nam Việt, ai cũng tin là mộ Triệu Đà. Báo đài tùm lum đưa tin. Mãi sau, khi mở quan tài ra mới biết là mộ cháu Triệu Đà. Mộ này đã mở cửa đón khách tham quan. Thế mà một sử gia có tên tuổi ở ta dám viết trong sách (xb 2017) là « ngày nay các nhà khảo cổ TQ đã tìm thấy mộ Triệu Đà ở Quảng Châu ».