Bay qua tổ chim cúc cu qua triết lý của Lão Tử

bay-qua-to-chim-cuc-cu-qua-triet-ly-cua-lao-tu


>> Phần 1: Chúng ta thích tự do hay thích làm nô lệ? 

Phim ảnh, đặc biệt là những kiệt tác, mỗi lần xem là một lần phát hiện ra một điều gì đó các bạn ạ. Thế nên người ta mới gọi nó là kiệt tác chứ. Và càng tuyệt vời hơn, khi được xem và được đối thoại về bộ phim với nhiều người khác, và nghe được những chia sẻ, những cảm nhận, những bóc tách mới từ họ. Bộ phim mà ta tưởng đã xem thuộc làu rồi, bỗng trở nên mới mẻ khi được soi chiếu dưới một lăng kín mới.

Buổi chiếu phim và nói chuyện "Bay qua tổ chim cúc cu" vừa rồi, tôi may mắn gặp được một khán giả khả kính như thế: Giáo sư, Tiến sĩ, Dịch giả Nguyễn Văn Trọng – người mà tôi đã nghe tên, đã đọc sách vài lần trước đây, nhưng chưa bao giờ được diện kiến.

Vì nhận định có phần chủ quan của Giáo sư Trọng cho rằng Milos Forman đạo diễn bộ phim “Bay qua tổ chim cúc cu” không chỉ với trải nghiệm của ông ta dưới chế độ Cộng sản ở Tiệp Khắc mà phần nào đó, ông cảm nhận Milos Forman ảnh hưởng triết lý Lão Tử trong xây dựng nhân vật và biểu tượng cho bộ phim, tôi thấy thú vị và khá bất ngờ vì chưa bao giờ nghĩ đến điều này. Dù không diễn giải cụ thể cảm nhận chủ quan của mình, giáo sư Trọng cho rằng nhân vật người tù trưởng da đỏ Bromden, là một biểu tượng của tinh thần Lão Tử: triết lý vô vi và câu nói kinh điển của bậc triết gia này “tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”.

Có lẽ vì điều đó mà ngay sau buổi chiếu, tôi phải đọc lại Lão Tử. Ngoài cuốn “Đạo Đức Kinh Lão Tử” của học giả Nguyễn Hiến Lê (tôi là một fan cứng của ông) đã có trên giá sách, tôi đặt thêm cuốn “Lão Tử Tinh Hoa” của Thu Giang Nguyễn Duy Cần trên tiki. 

Bình thường mỗi buổi sáng tôi đọc trên dưới 100 trang sách, nhưng với hai cuốn sách mỏng chỉ trên 200 trang này, tôi phải “đánh vật” trong suốt một tuần liền, đọc đi đọc lại mới hiểu được phần nào, đủ tự tin để tiếp chuyện quý vị ngày hôm nay.  

Trong hai tác phẩm này, đều thuộc dạng diễn giải và phân tích triết học của Lão Tử, cuốn của Nguyễn Hiến Lê dễ đọc hơn vì bố cục rõ ràng và ông chú giải rất chi tiết 81 chương trong cuốn “Đạo Đức Kinh” của Lão Tử, một dạng “nhập môn” cho những ai mới đọc Lão Tử; nhưng tôi thực sự nghiêng mình trước cuốn “Lão Tử Tinh Hoa” của học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần vì sự sâu sắc và minh triết của nó.

Trong phần bìa gấp, tôi đọc được thông tin như sau: “Nguyễn Duy Cần, hiệu là Thu Giang, sinh năm 1907 tại Mỹ Tho. Ông là một học giả nổi tiếng của Việt Nam vào khoảng những năm 50-60 của thế kỷ trước. Sách của ông bao gồm các thể loại sách học làm người, nghệ thuật sống, chuyên khảo, bình luận. Ngoài công việc viết lách, ông còn am tường châm cứu và chữa bệnh Đông y. Những năm cuối đời, Thu Giang không tiếp tục viết sách, lui về ở ẩn và để lại cho đời nhiều bộ sách và di cảo có giá trị. Đương thời, ông viết 16 cuốn sách, chủ yếu là về triết học phương Đông như Nhập môn triết học phương Đông, Lão Tử Đạo Đức Kinh, Tinh Hoa Lão Tử, Trang Tử Nam Hoa Kinh, Trang Tử Tinh Hoa, Chu Dịch Huyền Giải, Dịch Học Tinh Hoa... 

Có lẽ trước khi soi chiếu tư tưởng Lão Tử qua bộ phim “Bay qua tổ chim cúc cu”, chúng ta hãy lược qua triết học của ông. 

TRIẾT LÝ “VÔ VI” HAY “TRI GIẢ BẤT NGÔN, NGÔN GIẢ BẤT TRI”

Trong phần giới thiệu, Lão Tử Đạo Đức Kinh, có viết: “Không ai biết rõ về lai lịch của Lão Tử, có người cho rằng ông là một nhân vật không có thật, còn cuốn Đạo Đức Kinh là tác phẩm của một bậc ẩn quân tử trong thời Xuân Thu. Xung quanh cuộc đời và sự nghiệp của Lão Tử có nhiều điểm mơ hồ, chính vì vậy nhiều người đã thêu dệt rất nhiều câu chuyện hoang đường về Lão Tử.”

Cả hai học giả Nguyễn Hiến Lê và Thu Giang Nguyễn Duy Cẩn qua hai cuốn sách bàn về Đạo Đức Kinh của Lão Tử đều thừa nhận ông là một hiện tượng khá lạ trong lịch sử triết học của nhân loại, là một triết gia lớn, ảnh hưởng tới cả Đông Á ngang với Khổng Tử, thậm chí còn hơn (sẽ dẫn ở phần sau).

Hầu hết các nhà nghiên cứu, học giả Đông Tây đều phải công nhận Đạo Đức Kinh là một tác phẩm lớn của triết học cổ đại Trung Hoa, là một hệ thống tư tưởng, nhân sinh quan của Lão Tử. “Vô vi” là tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt tác phẩm, “vô vi” trong cách sống, cách hành xử, cũng như trong phép trị nước. Cho dù có nhiều diễn dịch khác nhau, nhưng theo Nguyễn Duy Cần, “vô vi” mà Lão Tử muốn nói đến là không hành động trái với quy luật tự nhiên, sống hòa mình cùng thiên nhiên chứ không có nghĩa là không làm gì cả. 

Ông dẫn thêm: “Vạn vật nhờ nó mà sinh ra, mà không một vật nào bị nó khước từ. Xong việc rồi không để tên; che chở, nuôi nấng muôn loài mà không làm chủ. Đạo sinh ra vạn vật, tuồng như không làm gì cả mà thật ra, không có gì là không làm. Triết học vô vi của Lão Tử bắt nguồn từ đây.”

Bàn về bản thể của Đạo, tức là nguồn gốc của vũ trụ, Lão Tử viết: “Hữu vật hỗn thành, tiên thiên địa sinh. Tịch hề, liêu hề, độc lập nhi bất cải, châu hành nhi bất đãi, khả dĩ vi thiên hạ mẫu” (Có vật hỗn độn mà nên, sanh trước trời đất. Yên lặng, trống không. Đứng riêng mà không đổi, đi khắp mà không mỏi, có thể là Mẹ thiên hạ.)

“Thiên hạ mẫu” có nghĩa là Đạo là nguồn gốc của vũ trụ, Mẹ sinh ra vạn vật dưới trời, mà cũng là nguồn gốc của vô vi, của một cái có tuyệt đối, một cái lớn tuyệt đối. Vì nó là một cái gì lớn tuyệt đối nên mới nói: “Nghinh chi nhi bất kiến kỳ thủ, tùy chi nhi bất kiến kỳ hậu” (Đón nó thì không thấy đầu, theo nó thì không thấy đuôi)...

Nguyễn Duy Cần tiếp tục phân tích: “Trong thời đại của Lão Tử, quan niệm về vũ trụ hãy còn hết sức là ấu trĩ, cho nên phần đông con người khó tránh sa vào thần bí. Chỉ có một mình Lão Tử không phải như thế. Mặc dù ông không có khí cụ dùng phương tiện đo lường tinh xác như ngày nay, ông vẫn cũng biết được một cách rất thâm sâu rằng: vũ trụ không thể nào dùng tư tưởng mà suy nghĩ được, không thể nào dùng lời nói mà luận bàn được. Và vì thế ông cưỡng đặt cho nó cái tên là Đạo.”

Về Đạo Đức Kinh, tác phẩm triết học duy nhất của Lão Tử, như tôi đã dẫn ở trên, có 81 chương cả thảy. Cách duy nhất để tiếp cận trọn vẹn là các bạn hãy đọc sách, tôi chỉ dẫn ra một vài triết thuyết nổi tiếng của ông. 

Một triết lý của Lão Tử được người đời trích dẫn nhiều nhất qua Đạo Đức Kinh, theo tôi là câu nói: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri” (Biết thì không nói, mà nói thì không biết.)

Ở chương cuối cùng (chương 81), tôi cũng thích câu nói này: “Tín ngôn bất mĩ, mĩ ngôn bất tín. Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện. Tri giả bất bác, bác giả bất tri”. Theo diễn giải của học giả Nguyễn Hiến Lê: “Lời nói chân thật thì không hoa mĩ, lời nói hoa mĩ thì không chân thật. Người “thiện” thì không cần biện giải (vì hành vi tốt rồi), người nào phải biện giải cho mình là người “không thiện”. Người sáng suốt hiểu đạo thì tri thức không cần rộng (vì nắm được chân lý là đủ rồi), người nào tri thức rộng thì không sáng suốt, hiểu đạo (vì tìm ngọn thì quên gốc). Bậc thánh nhân vô dục, không tích trữ, càng giúp người, mình lại càng khó dư, càng cho người, mình lại càng có nhiều. Đạo trời chỉ có lợi cho vạn vật chứ không có hại, đạo thánh nhân giúp người mà không tranh với ai.”

Trong chương cuối kết lại Đạo Đức Kinh, Lão Tử viết có 24 từ mà ông Nguyễn Hiến Lê giải thích ra thành 121 từ (là tôi phải bôi đen để đếm ;)), đấy là chưa kể vài trang để chú giải. Thế mới nói Lão Tử viết ngắn gọn, khúc chiết mà tinh hoa như thế nào. Đạo Đức Kinh của ông viết khoảng 5000 từ, chắc là cuốn sách triết học ít chữ nhất Đông Tây kim cổ, mà chắc xưa nay có khoảng ... 5000 cuốn sách cả Đông lẫn Tây bàn về tư tưởng và triết học của ông là thế (là tôi đoán mò thế vì thấy danh sách dài dằng dặc). 

Thế nên tất nhiên trong quá trình chú giải, phân tích, đọc hiểu Lão Tử không thể không xảy ra hiểu lầm hoặc cực đoan nọ kia, thậm chí còn có ý kiến cho rằng “thuyết tiêu cực của Lão Tử biểu thị sự suy bại của đẳng cấp phong kiến quý tộc cũ, vì muốn phản ứng lại tình thế nhưng vì bất lực chỉ còn than phiền địa vị xã hội của mình đã nghiêng đổ. 

Nguyễn Duy Cần nhận định: “Đây là lối phê bình, chỉ trích một chiều vừa cực đoan, vừa ngụy biện, vừa hiểu sai hoàn toàn tinh thần của Lão Tử.”

Ví dụ như câu: “Cổ chi thiện vi Đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu dân.” (Bậc thánh nhân trị nước mà khéo thì hành Đạo, thì không làm cho dân sáng mà làm cho dân ngu). Câu nói này nếu hiểu theo nghĩa đen rất dễ gây hiểu lầm. Theo Nguyễn Duy Cần, ý của Lão Tử trong chữ  “minh dân” và “ngu dân” ở đây không còn có cái nghĩa thông thường của nó nữa. “Minh dân” không có cái nghĩa là mở rộng óc thông minh, “ngu dân” cũng không có nghĩa là làm cho đầu óc con người trở nên ngu đần. Chữ “minh” ở đây là đa kiến xảo trá, và chữ “ngu” đây là thuần hậu thật thà. 

Ông kết lại tư tưởng của Lão Tử: “Cái đạo trị nước hay nhất để đem lại hạnh phúc cho nhân dân là đưa họ trở về một đời sống thật thà và giản dị.”

Đạo Đức Kinh của Lão Tử, như đã nói, dù là một quyển kinh rất nhỏ, chỉ chứa đựng trên 5000 từ, chia làm 81 chương, nhưng sách của ông đóng một vai trò quan trọng đặc biệt trong lịch sử văn minh Trung Quốc.

Nguyễn Duy Cần viết: “Ngay từ thế kỷ thứ Tư và thứ Ba trước Tây lịch, ảnh hưởng tư tưởng của nó cũng đã to tát lắm rồi. Trong những khoảng đầu của Tây lịch kỷ nguyên, học thuyết Lão Tử dọn đường cho Phật giáo Đại thừa du nhập vào Trung Hoa, và đã xây đắp nền móng cho sự hoàn thành hai hệ tư tưởng lớn nhất ở cõi Á Đông, là Đạo giáo và giáo phái Thiền Tông. Từ đó sách Lão Tử không ngớt ảnh hưởng tới các triết gia Đông phương, dù là các bậc Danh Nho. Ở Trung Hoa, Nhật Bản và ngay ở Việt Nam từ trước đến giờ, không có một nhà văn lỗi lạc nào, không có một nghệ sĩ xuất chúng nào, không có một tư tưởng gia sâu sắc nào mà không chịu ít nhiều ảnh hưởng tư tưởng của nó.”

“Tóm lại sách của Lão Tử có thể đem đến cho con người một sự giải thoát toàn diện. Học giả phương Tây E.V.Zenker nhận định: “Lão Tử đâu phải chỉ sống cho một nước Trung Hoa của ông mà thôi đâu. Ông là một trong những bậc thầy thuần túy nhất và sâu sắc nhất của nhân loại”.  Một nhà nghiên cứu khác, René Bertrand thì quả quyết rằng: “Vài dòng chữ hợp thành quyển sách ấy (Đạo Đức Kinh) chứa đựng tất cả sự khôn ngoan trên quả đất này.”

***

KHỔNG TỬ & LÃO TỬ: MÊ & NGỘ

Một trong những phần thú vị nhất của Lão Tử Tinh Hoa, theo tôi là phần so sánh giữa tư tưởng và triết lý của Khổng Tử và Lão Tử. 

Nguyễn Như Cần dẫn giải: “Lão học và Khổng học khởi nguyên đều ở một nguồn gốc mà ra: Dịch học. Nhưng Lão Tử thì chủ trương ở chỗ ‘qui túc’, còn Khổng Tử thì chủ trương ở nơi ‘xuất phát’. Cái chỗ thuận nghịch của hai đàng đã khác thì cái chủ trương của hai đàng cũng vì đó mà khác nhau. Lão Tử thì chủ trương tuyệt đối, nên không nói đến các giới tốt xấu, lành dữ, có không, dễ khó, ngắn dài, cao thấp, sanh tử. Xu hướng của Lão là ở nơi cảnh giới siêu nhiên mà xây dựng trên nền tảng của Huyền học. Bản thể của cái học này là ở nơi hư vô, mục đích của nó là “quy chân phản phác” (theo chú thích của ông là ‘Lấy lòng khoan dung nhu thuận để giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo. Đó là sức mạnh của phương Nam. Đó là lối cư xử của người quân tử. Mặc áo giáp, mang vũ khí, nhìn cái chết không sờn lòng. Đó là sức mạnh của phương Bắc, đó là lối cư xử của người mạnh về huyết khí’).

Khổng học thì chủ trương tương đối nhị nguyên, nên có trai có gái, có vợ có chồng, có cha có con, có vua có tôi, có trên có dưới, có tôn có ti, có nhỏ có lớn, có quý có tiện... khác nhau, và xây dựng trên nền tảng luân lý, mà xu hướng thì thiên về phương diện cực hữu vi, bản thể của nó là ở Đạo Nhân (Đạo làm người) mà mục đích của nó là ‘khai vật thành dụ’ như ở Chu Dịch.”

Có rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả phân tích sự khác nhau giữa hai hệ thống tư tưởng, hai bậc hiền triết này. Nguyễn Hiến Lê có vẻ bảo vệ tư tưởng của Khổng Tử, trong khi Nguyễn Duy Cẩn phân tích hai hệ tư tưởng của hai triết gia này, nhưng ông nghiêng về Lão Tử (trong 16 cuốn sách của ông cũng không có cuốn nào về Khổng Tử).

Trong cuốn Lão Tử Tinh Hoa, Nguyễn Duy Cẩn dẫn khá dài, tôi không muốn trích dẫn dài dòng, chỉ chốt lại một câu về sự đồng nhất của họ về Khổng và Lão là “tuy kình chống nhau, mà thực sự bồi bổ lẫn nhau”. 

Ông trích dẫn nhận định của nhà nghiên cứu phương Tây A. W. Watts để bàn về sự khác biệt giữa tư tưởng của Khổng Tử và Lão Tử: “Khổng giáo chi phối mọi ước lệ ngôn ngữ, nghệ thuật, luân lý, pháp chế và lễ nghi để điều hòa mọi hoạt động tầm thường hằng ngày trong xã hội. Khổng giáo chuyên chú về cái học ước lệ giả tạo của nhân vi, và chính căn cứ vào những nguyên tắc ước lệ ấy mà người ta cố uốn nắn bọn trẻ để cho chúng trở thành những ‘khuôn mẫu’ mà xã hội đã quy định sẵn trước cho những hành vi tư tưởng của chúng. Lý tưởng giáo dục của họ là cốt đào tạo những ‘chuyên viên tư tưởng’ theo rập với một khuôn khổ có sẵn... Họ đem ‘quy chế xã hội’ làm ‘thành một cái giường của chàng Proscute’ để mà chế ngự tất cả mọi xu hướng tự do phóng túng và bất thường của con người.”

“Chiếc giường của Procuste” được chú thích rất thú vị như sau: “Theo thần thoại Hy Lạp, ngày xưa có chàng Procuste, một tướng cướp rất dữ tợn. Anh ta có sắm một cái giường sắt. Hễ bắt được một nạn nhân nào cũng đem đặt lên cái giường ấy. Nếu vừa thì thôi, nhược bằng dài hơn thì chặt bớt, ngắn hơn thì bị kéo dài cho vừa vặn với cái giường. ‘Cái giường Procuste’ là ám chỉ những khuôn khổ tàn nhẫn của xã hội bắt mọi người phải theo đó mà sống, không được quyền vượt ra khỏi.”

Cũng theo A.W.Watts, “Lão học, trái lại là dành riêng cho những người lớn tuổi hơn, và nhất là cho những người đã rút khỏi trường hoạt động xã hội. Sự từ bỏ những hoạt động xã hội là một bằng chứng rằng họ đã thực hiện được một sự giải thoát nội tâm đối với những lề lối suy tư và ăn ở theo những ước lệ giả tạo bên ngoài. Bởi vậy, Lão giáo là một cuộc đi tìm một thứ hiểu biết tự nhiên, một thứ hiểu biết không giả tạo ước lệ mà do một sự thông cảm trực tiếp với nguồn sống chân thật của nội tâm.”

Một sự khác biệt nữa giữa hai hệ tư tưởng của hai triết gia này, theo ông là:

“Khổng học thì lại nhắm vào sự uốn nắn con người theo một thể thức cứng rắn của xã hội, một công việc chẳng những gây cho con người nhiều tranh chấp và thống khổ ở nội tâm, lại còn khiến cho con người mất cả sự hồn nhiên chất phác buổi ban đầu mà chỉ trẻ con mới có, và đôi khi chỉ có những bậc thánh hay bậc hiền mới tìm lại được mà thôi. 

Sự giằng co đối đầu nhau giữa cá nhân và xã hội lắm khi quá gắt gao, quá bức bách sẽ biến thành những chứng bệnh thần kinh, gây không biết bao là án mạng, tội ác và điên cuồng... ở những tâm hồn yếu đuối và nhạy cảm.”  

“Lão học có công dụng an ủi và chữa các thứ bệnh loạn tâm loạn óc ấy, những bệnh thần kinh mà nhà phân tâm học ngày nay gọi là ‘mặc cảm tội lỗi’ với những hậu quả vô cùng đau thương và đồng thời đem con người trở về với tự nhiên, tức là trở về với con người thật của mình. 

Nhưng, ta không nên hiểu rằng Lão học là một cuộc cách mạng chống lại với trật tự đã an bài. Lão học là một phương pháp giải thoát cá nhân, không thể thành công được bằng một cuộc cách mạng xã hội bên ngoài.”

“Giải thoát những ước lệ giả tạo của xã hội, không có nghĩa là khinh thường ruồng bỏ nó, mà chính là đừng để bị nó phỉnh gạt mình. Tức là biết dùng nó như một dụng cụ, thay vì bị nó bắt mình làm món đồ chơi của nó”. – Học giả Nguyễn Duy Cẩn tiếp tục dẫn A.W. Watss trong tác phẩm của ông “Le Bouddhisme Zen” để kết lại phần so sánh của mình. 

Cuối cùng, ông chốt lại: “Khổng học như con sâu; Lão học như con bướm. Cả hai đều là một, khác nhau vì ở những giai đoạn trước và sau. Bản ngã và chân thể là một, khác nhau ở chỗ mê và ngộ mà thôi.”

Một trong những triết thuyết quan trọng của Lão Tử là ông cho rằng đời sống tinh thần và tâm lý của con người có 3 giai đoạn phát triển. Và cuốn Đạo Đức Kinh của ông nhắm vào giai đoạn thứ 3, tức là giai đoạn cứu cánh, giai đoạn giác ngộ của đời người. Theo Nguyễn Duy Cẩn, đây cũng là chỗ phân biệt giữa hai cái học: Lão và Khổng.

*** 

BAY QUA TỔ CHIM CÚC CU QUA TRIẾT LÝ CỦA LÃO TỬ

Muốn biết giai đoạn thứ 3 – giai đoạn cứu cánh, giác ngộ của đời người, hãy đọc kỹ cả 3 giai đoạn mà Lão Tử dẫn ra trong Đạo Đức Kinh. Đây cũng là phần mà tôi thử dùng để soi chiếu qua bộ phim “Bay qua tổ chim cúc cu”.

Đạo Đức Kinh Lão Tử cho rằng lịch trình diễn tiến tự nhiên về đời sống tinh thần tâm lý của con người có thể chia làm 3 giai đoạn sau đây (dẫn theo chú giải của Nguyễn Duy Cẩn):

“Giai đoạn bắt đầu tạo sanh bản ngã. Đây còn được gọi là giai đoạn thứ nhất. Con người còn ở trình độ sơ khai, người ta chưa có bản ngã, hay nói cho đúng hơn, họ chưa có cá tính rõ rệt. Họ cảm giác theo phần đông, họ suy nghĩ theo phần đông. Họ bị ảnh hưởng bên ngoài rất dễ dàng: mê tín, dị đoan. Ai nói sao họ cũng đinh ninh là như thế. Thói quen, tập tục chỉ huy tất cả đời sống tâm trí của họ. Con người trong giai đoạn này thích bắt chước, thích chạy theo thời thượng, rất sợ dư luận khen chê, nghĩa là không dám làm điều gì khác với thiên hạ xung quanh, không bao giờ biết hay dám suy nghĩ một mình, theo mình. Họ hoàn toàn là phản ánh trung thành của xã hội, của ngoại cảnh, hay nói cách khác, theo triết học duy vật, họ là ‘sản phẩm’ của xã hội, của giáo dục, của luân lý, phong tục, và sách vở mà họ đã đọc qua. Họ là những người có rất nhiều thành kiến, sống theo dư luận phần đông. Họ sống như một đàn cừu, cúi đầu bước theo nhịp bước của con dẫn đạo, không dám lạc đoàn. Họ sống cần có người dẫn đạo.”

Nhìn chung, hầu hết con người trong xã hội từ xưa đến nay đều chỉ ở giai đoạn thứ nhất này. Trong “Bay qua tổ chim cúc cu”, hầu hết bệnh nhân trong cái trại tâm thần đều thuộc vào giai đoạn này. Họ là những con cừu đã được thuần dưỡng và mất khả năng chống cự, dưới sự cai trị quỷ quyệt của mụ y tá Ratched. Một vài đòi hỏi quyền lợi của họ, như bệnh nhân Cheswick (mời xem hình ảnh minh họa) chỉ dừng lại ở mức khẩu phần những điếu thuốc lá bị cắt. 

Khi McMurphy gia nhập cái trại điên này và khuấy đảo nó lên, vận động họ để được xem những trận bóng chày trên ti vi, rất ít cánh tay dám giơ lên ủng hộ, vì mụ Ratched đang im lặng quan sát họ. Sau nhiều lần kích động họ thất bại, McMurphy phải giận dữ kêu lên: “Các anh cứ than phiền rằng các anh không chịu được nơi này, nhưng thậm chí các anh không làm bất cứ điều gì để thay đổi nó, thậm chí là bước ra bên ngoài”. 

Một trong những nhân vật điển hình nhất cho hình ảnh con cừu bị thuần dưỡng là Billy Bibbit, chàng thanh niên cà lăm, tinh thần yếu nhược và vô cùng khiếp sợ đòn tấn công vào điểm yếu của mụ Ratched. Khi được McMurphy truyền cảm hứng sau chuyến trốn trại tâm thần đi câu cá ngoài đại dương trở về, Billy có vẻ tự tin hơn một chút, nhưng khi McMurphy rủ anh ta cùng bỏ trốn để đến sống tự do ở đất nước Canada, Billy đã đáp lại yếu ớt rằng: “tôi chưa sẵn sàng”.

Billy và hầu hết các bệnh nhân trong trại tâm thần này, chính xác là những “chú cừu cúi đầu bước theo nhịp bước của con dẫn đạo, không dám lạc đoàn” như Lão Tử đã viết. 

Ai trong chúng ta cũng dễ dàng nói rằng, chúng ta yêu thích tự do, nhưng hầu hết đấy chỉ là một câu nói đầu môi. Nói như nhạc sĩ Dương Thụ trong buổi thảo luận hôm đó: “Chúng ta hầu hết đều yêu tự do, nhưng khi cần đấu tranh để có tự do thì hầu hết chúng ta thà làm nô lệ (cho khỏe thân)”.

*

Giai đoạn thứ 2 của đời người theo Lão Tử là “Giai đoạn trưởng thành của bản ngã. Bắt đầu bước qua giai đoạn này, cá tính con người lần lần xuất hiện. Những tính hay bắt chước, chạy theo thời thượng bắt đầu giảm dần và biến mất, để lại một tâm hồn độc đáo, có những sáng kiến và óc phê bình sâu sắc. Họ sẽ là người không chịu làm tôi tớ của cổ nhân nữa. Họ dám đem tất cả những giá trị điển hình xưa nay mà thẩm định lại. Họ dám hoài nghi, và hoài nghi tất cả, một thứ hoài nghi triết lý. Trong bất cứ hoạt động nào, họ luôn luôn tỏ ra có những ý tưởng tân kỳ biệt lập, họ thích suy nghĩ theo mình mà không chịu suy nghĩ theo người khác. Họ cố gắng để vượt ra khỏi những ảnh hưởng của ngoại giới, của những giá trị đã an bài. Họ bao giờ cũng có một tâm hồn độc lập, sáng tạo và tự do. Nghĩa là họ có một tâm hồn cách mạng, thích làm một người dẫn đạo, hơn là một người rụt rè phụ họa. 

Nhưng cái bản ngã ấy, một ngày kia, khi đã đến mức chín muồi rồi, khi đã tận dụng khả năng biểu hiện của nó, nó sẽ nhận thấy nó bị giam hãm nô lệ trong những công trình sáng tạo của chính nó, và như vậy, khi nhận thức cái bản ngã ấy chỉ là một ảo vọng bị hạn chế trong giới nhị nguyên, rất hẹp hòi và lầm lạc... nó bắt đầu vượt thoát ra khỏi đó, để đi tìm sự sát nhập với cái Sống Một vô cùng của trời đất nơi lòng họ, nghĩa là tìm mà thực hiện giai đoạn thứ ba của đời người.”

Đây chính là minh họa chính xác nhất cho hình ảnh của McMurphy trong “Bay qua tổ chim cúc cu”. Anh ta quả là có một tâm hồn độc lập, sáng tạo và tinh thần tự do vô bờ bến, và bộ máy cai trị của mụ Ratched phải bất lực. Anh ta thích làm cách mạng, thích làm người dẫn đạo hơn là rụt rè phụ họa. Anh ta là người làm náo động cả cái trại điên, khiến bọn quản lý, từ tay bác sĩ Spivey đến mụ y tá trưởng Ratched phải e dè và cho rằng, “anh ta không điên nhưng nguy hiểm”; “anh ta là một hòn đá lăn không mọc rêu”. 

Nhưng chính ở đây, nói như Lão Tử ở trên, cái bản ngã của McMurphy đến khi chín muồi rồi thì lại bị giam hãm nô lệ trong những công trình sáng tạo của anh ta. Và đây là lúc mà anh ta rơi vào ảo vọng và lầm lạc, cho rằng cuộc cách mạng của mình sẽ chiến thắng. Chính vì sự hiếu thắng đó, McMurphy đã trả một cái giá quá đắt, bằng sinh mạng của Billy và của chính mình. 

*

 Giai đoạn thứ 3 là giai đoạn cuối cùng, giai đoạn cứu cánh, giác ngộ theo tư tưởng của Lão Tử. “Giai đoạn cuối cùng là vượt khỏi bản ngã hay tiêu diệt bản ngã, để trở về sát nhập với đời sống của chân thể, đồng với cái sống vô cùng của trời đất. Ở giai đoạn này, bản ngã không còn thấy mình là một vật riêng biệt nữa mà là một với vạn vật. Và đây là giai đoạn vượt khỏi giới nhị nguyên, giai đoạn mà nhà Phật gọi là ‘đáo bỉ ngạn’, không còn thể dùng đến lý trí nữa; mà phải dùng đến một khiếu hiểu biết khác để nhập vào luồng sóng của Đạo, tức là giai đoạn huyền động cùng vũ trụ.”

Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho hình ảnh của người tù trưởng da đỏ Bromden, kẻ giả câm, giả điếc để thoát khỏi sự cai trị của mụ Ratched, kẻ “to như một ngọn núi” khiến McMurphy phải kiêng dè và cuối cùng là kẻ đã thực hiện cuộc cách mạng của anh ta. Bromden, đích xác là kẻ đã đạt đến giai đoạn thứ 3 của đời người, đã vượt khỏi bản ngã, tiêu diệt bản ngã để trở về sát nhập với đời sống vô cùng của trời đất. 

Trong McMurphy và tù trưởng da đỏ Bromden, ai mới thực sự là kẻ thông minh và đạt đến tinh thần tự do từ bên trong? Cặp nhân vật này khiến tôi nghĩ đến hai cặp nhân vật nổi tiếng khác: Andy (Tim Robbins) và Ellis (Morgan Freeman) trong “The Shawshank Redemption” và Paul Edgecomb (Tom Hanks) và John Coffey (Michael Clark Duncan) trong “The Green Mile”, cả hai phim về đề tài nhà tù được chuyển thể từ tiểu thuyết của Stephen King. Tôi đồ rằng ông King chịu ảnh hưởng rất lớn của “One Flew Over The Cuckoo's Nest” (Bay qua tổ chim cúc cu) khi viết hai tác phẩm này, tất nhiên hai bộ phim điện ảnh được chuyển thể cũng vậy. 

Và tất nhiên, nếu soi chiếu dưới hệ tinh thần của Lão Tử mà tôi mới được khai sáng, tôi nhận ra triết học của Lão Tử không chỉ dừng lại ở phương Đông.  

*

Trong buổi chiếu phim hôm đó, nhạc sĩ Dương Thụ, như thường lệ, cũng đưa ra nhiều nhận định sắc bén. Ông nói rằng: “tự do lớn nhất của con người là tự do từ bên trong” và có vẻ như theo ông, Bromden mới là nhân vật đạt đến sự tự do đích thực của đời người. Hôm đó tôi phản biện lại ngay, “nhưng mấy ai trên đời này đạt đến cái tinh thần tự do đó? Và nếu không có những người như McMurphy dám xả thân, dám móc trái tim Đan- Kô của mình ra để soi rọi ánh sáng tự do đó, liệu người tù trưởng Bromden có phá cũi sổ lồng, đập vỡ cửa kính bệnh viện để vọt ra ngoài đi tìm tự do đích thực không?”

Bromden khiến tôi kính nể về sự khôn ngoan và tinh thần tự do từ bên trong, nhưng tôi luôn luôn dành tình yêu và sự ngưỡng mộ của mình cho McMurphy là vậy.

Có lẽ tôi đang ở giai đoạn thứ 2 của đời người chăng? Theo độ tuổi thì đúng rồi. 😜

***

Hai ngày lễ của tôi thế là trôi vèo qua với gần 10.000 từ miễn phí để đãi gà rừng. Bằng ¼ cuốn sách của tôi rồi đó thưa quý vị. 

Nhưng vẫn còn nhiều thứ hay ho về Đạo Đức Kinh Lão Tử mà tôi vẫn còn muốn chia sẻ. 

Hy vọng tôi sẽ còn trở lại chủ đề này vào một dịp khác. ;)