Bài 1: Đổi mới tư duy quản trị

bai-1-doi-moi-tu-duy-quan-tri

Gần đây, trên báo chí chính thống cũng như cộng đồng mạng, ngày càng nhiều thông tin và bình luận về các vấn đề gây bức xúc như gian lận thi cử, tấn công tình dục trẻ em, bạo lực học đường, thực phẩm không an toàn…bên cạnh các vấn nạn “truyền thống” như tham nhũng tràn lan và quản trị yếu kém nên đất nước vẫn tụt hậu. 

Dòng chảy của năng lượng tiêu cực dường như đang lấn át tư duy tích cực. Xã hội càng bức xúc và bất ổn như đám rơm khô dễ cháy, mỗi khi có một vấn đề mới nổi lên như dự án cao tốc Bắc-Nam hay sức khỏe lãnh đạo. 

Tuy Việt Nam có nhiều tiềm năng và cơ hội, nhưng bị kìm hãm bởi năng lượng tiêu cực và thể chế lỗi thời, là môi trường thuận lợi cho chủ nghĩa thân hữu (cronyism) và tham nhũng. Muốn đất nước phát triển tốt và hội nhập quốc tế, cần tháo gỡ các điểm tắc nghẽn (bottomnecks) làm triệt tiêu năng lượng sáng tạo và đổi mới. Muốn vận dụng “công nghệ 4.0” để phát triển bền vững, cần đổi mới tư duy quản trị để thu hút nhân tài và nâng cao dân trí.

Trong thế kỷ 21, sự phát triển công nghệ 4.0 (big data, artificial intelligence, machine learning) đang làm thay đổi chóng mặt bức tranh toàn cảnh về thế giới trong thời kỳ “hậu sự thật” (post-truth). 

Loài người đang đứng trước các thách thức mới đầy bất an như “con dao 2 lưỡi” mà Yuval Harari đã cảnh báo trong cuốn sách mới (21 lessons for the 21th century, Spiegel & Grau, 2018). 

Ba bài này góp phần thảo luận để tạo ra dòng chảy của năng lượng tích cực trong cộng đồng, như động lực sáng tạo cho quá trình đổi mới tư duy và thể chế… 

Bài 1: Đổi mới tư duy quản trị

Bài 2: Đổi mới thể chế và trọng dụng nhân tài

Bài 3: Quản trị nhân tài và giai cấp sáng tạo

NQD. 21/4/2019

------------------

Bài 1: Đổi mới tư duy quản trị

“Một đất nước muốn phát triển, đất nước đó cần phải được quản trị tốt; một doanh nghiệp muốn lớn mạnh, doanh nghiệp đó cần phải được quản trị tốt; một gia đình muốn hạnh phúc, gia đình đó phải được quản trị tốt”.(Peter Drucker, 1009-2005)

Đổi mới hay là chết

Peter Drucker là một chuyên gia hàng đầu về quản trị có tầm nhìn xa. Tuy ông không biết hiện tượng Trumpism sẽ tạo ra một cơn địa chấn chính trị cho nước Mỹ và toàn cầu như một bước ngoặt lịch sử vào đầu thế kỷ này, nhưng ông đã từng cảnh báo giáo dục truyền thống chỉ dạy cho người học về một thế giới không còn tồn tại. Muốn tránh khủng hoảng và muốn phát triển bền vững, các nước (cũng như các doanh nghiệp) cần đổi mới tư duy quản trị và thể chế đã lỗi thời để đối phó hiệu quả với những thách thức mới khó lường và bất định.

Cách đây hơn hai năm, cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đã thua Donald Trump, một thương nhân không có kinh nghiệm chính trị, nhưng rất thực dụng (và phi truyền thống). Trump đang quản trị nước Mỹ như một doanh nghiệp khổng lồ. Đúng hay sai còn đang tranh cãi và sẽ hạ hồi phân giải, nhưng trật tự Mỹ và thế giới đang bị đảo lộn bởi Trumpism.

Trong khi đó, Việt Nam là một xã hội chuyển đổi (transitional) từ mô hình nhà nước bao cấp sang kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ cái đuôi XHCN. Đã đến lúc cần đổi mới thể chế đã lỗi thời vì đó là miếng đất màu mỡ cho các nhóm lợi ích thân hữu thao túng. Bà Nguyễn Thị Doan nói “họ ăn của dân không từ một cái gì”. 

Vật chất (như đất đai) không tự nhiên xuất hiện hay mất đi, mà nó chuyển từ tay người này sang tay người khác. Ngoài phát triển bất động sản (từ đất) Việt Nam vẫn chưa công nghiệp hóa. Xuất khẩu tăng trưởng tốt, nhưng chủ yếu vẫn phải dựa vào khu vực FDI (như “cái bẫy gia công”).

Trong khi các nhóm thân hữu giàu lên nhanh chóng, thì các nguồn tài nguyên quốc gia bị cạn kiệt và đất nước vẫn tụt hậu. Trong mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và lòng tin của người dân cũng bị cạn kiệt. Người ta nói rằng một khi lòng tin đã mất thì khó lấy lại. Có nhiều loại khủng hoảng, nhưng khủng hoảng nhân cách (trong giới tinh hoa) và khủng hoảng lòng tin (của người dân) là một yếu huyệt. 

Trong khi hầu hết các “đại gia” giàu lên từ bất động sản trở thành tỷ phú, thì hàng trăm ngàn doanh nghiệp “vừa và nhỏ” bị phá sản hoặc “chết lâm sàng”. Có nhiều nguyên nhân, nhưng có lẽ không phải do họ dốt mà chủ yếu do ngộ nhận về kinh tế thị trường, nên không kịp chuyển đổi để thích nghi, và đổi mới tư duy quản trị cho phù hợp. Đó là nguyên nhân nội tại bên cạnh các nguyên nhân khác. Đã đến lúc cần đổi mới “vòng hai”, như thời ông Nguyễn Văn Linh đã phát động đổi mới “vòng một”, với khẩu hiệu “đổi mới hay là chết”.

Đổi mới cái gì

Báo cáo “Vietnam 2035” (Bộ KH-ĐT và World Bank chủ trì) khuyến nghị đổi mới thể chế dựa trên 3 trụ cột: (1) Thịnh vượng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường; (2) Công bằng và hòa nhập xã hội; (3) Nâng cao năng lực và trách nhiệm giải trình. 

Muốn đổi mới thể chế, cần đổi mới tư duy quản trị như một nhu cầu tất yếu, giống quy luật “sinh-lão-bệnh-tử”. Đổi mới kinh tế tại Việt Nam đã trải qua ba thập kỷ, nay các động lực không còn đáp ứng được những thách thức phát triển mới, nếu không muốn nói là đã bị vô hiệu hóa và triệt tiêu.

Một cơ thể ốm yếu do mắc bệnh hiểm nghèo (như ung thư) cần được giải phẫu và hóa/xạ trị kịp thời để tránh di căn, vì để lâu tính mạng khó an toàn. Muốn đổi mới thể chế thành công, cần đổi mới tư duy và hệ quy chiếu (paradigm shift). 

Einstein đã từng nói. “Bạn không thể giải quyết vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra nó”. Tư duy “truyền thống” theo đường mòn “quy trình” như “trong cái hộp” không còn phù hợp. Tuy đổi mới tư duy (và thói quen) rất khó, nhưng nếu đó là vấn đề sống còn thì phải cố “biến điều không thể thành có thể”. 

Donald Trump đã thắng và trở thành tổng thống Mỹ thứ 45, vì ông ấy không làm theo “quy trình” truyền thống mà thay đổi “quy trình” bằng tư duy đột phá. Mỗi sáng Trump dậy sớm tweet có thể làm thị trường chứng khoán chao đảo, và các chính phủ khác đau đầu. Trump đang ứng dụng công nghệ mới làm đảo lộn trật tự cũ. Có lẽ đó là điều mà Bill Gates nhận ra và đánh giá cao triển vọng của con người bất trị này. Chính Bill Gates trước đây cũng không làm theo “quy trình” (như bỏ học) nên đã trở thành tỷ phú giàu nhất thế giới. 

Đổi mới “vòng một” ở Việt Nam chủ yếu là đổi mới các thành phần kinh tế theo quy luật thị trường. Đổi mới “vòng hai” chủ yếu là đổi mới thể chế chính trị, để tháo gỡ “các điểm tắc nghẽn” làm bất cập giữa kinh tế thị trường và “định hướng XHCN”. Đối với một xã hội đang chuyển đổi, khủng hoảng thể chế là điều dễ hiểu như một đặc thù. Để quản trị quốc gia, khủng hoảng lòng tin và thể chế là thách thức lớn nhất. Trong quản trị doanh nghiệp, đổi mới tư duy quản trị lâu nay vẫn theo đúng “quy trình” (truyền thống) nên trì trệ. 

Trong bối cảnh đổi mới “vòng hai”, Việt Nam nên bắt đầu từ nông nghiệp (chứ không phải công nghiệp). Nên lấy đồng bằng Nam Bộ làm nơi thí điểm, vì có sáng kiến “Mekong Connect” gồm 4 tỉnh ABCD (An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp). 

Muốn “định vị Việt Nam” trong chuỗi giá trị toàn cầu, phải đổi mới thể chế để tháo gỡ “các điểm tắc nghẽn” như đề xuất của nhóm chuyên gia quốc tế về “Sáng kiến Việt Nam”. Phải đoạn tuyệt với tư duy “exceptionalism” (đặc thù) và “gradualism” (tiệm tiến) lâu nay vẫn cản trở tư duy đột phá. 

Nông nghiệp Việt Nam cũng tụt hậu so với các nước láng giềng, nên phải sang Thailand và Campuchia học tập kinh nghiệm trồng lúa. Muốn “thương mại hóa” và hiện đại hóa nông nghiệp để tham gia phân khúc thị trường cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, cần xóa bỏ “hạn điền” là hệ quả của cơ chế sở hữu đất đai lỗi thời như cái vòng kim cô kìm hãm sản xuất nông nghiệp hiện đại. Nhưng hiện đại không có nghĩa là vĩ đại (quy mô quá lớn), vượt khỏi năng lực quản trị, mà phải có chất lượng cao hơn (đáp ứng các tiêu chí hiện đại), và tương thích với năng lực quản trị (đang chuyển đổi). Nếu ngộ nhận và nhầm lẫn có thể phải trả giá.

Đổi mới thế nào 

Đổi mới quản trị (management change) khác với lý thuyêt quản trị sự thay đổi (change management) mà John Kotter đã đề xuất với “mô hình thay đổi 8 bước”. Lý thuyết của John Kotter (Leading Change) đã được giảng dạy và ứng dụng cho quản trị điều hành trong nhiều thập kỷ qua. Đến nay, nếu chưa lỗi thời, thì nó cũng không còn hiệu quả như trước, vì thời thế đã thay đổi. Gary Hamel đã đề xuất lý thuyết đổi mới quản trị triệt để hơn (Gary Hamel, “The Future of Mangement”, 2007 and “What Matters Now”, 2012). 

Hamel lập luận rằng các mô hình quản trị “hiện đại” là những phát kiến quan trọng của con người trong hơn một thế kỷ qua, để chuyên môn hóa và tiêu chí hóa hệ thống vận hành theo những quy trình quản trị “truyền thống”. Nhưng mô hình đổi mới quản trị khác biệt với các quy trình và tập quán quản trị truyền thống. Thách thức lớn nhất để thay đổi quản trị triệt để là phải có tư duy thực sự đổi mới. Câu hỏi căn bản để phân định sự khác biệt mà Gary Hamel đặt ra là “bạn có thực sự nghiêm túc hay không” (are you really serious). 

Đổi mới quản trị đòi hỏi bốn yếu tố: (1) Có tư duy mới (fresh thinking) để tháo gỡ những nút thắt nan giải; (2) Nguyên lý hay cách nhìn mới (new paradigms) có hiệu lực soi sáng cho cách đề cập mới; (3) Thận trọng xóa bỏ những tập quán giáo điều đã kìm hãm tư duy sáng tạo; (4) Những ví dụ và so sánh để giúp xác định những giải pháp khả thi. 

Nói cách khác, để tháo gỡ những vấn đề căn bản và nan giải, cần một tầm nhìn mới với tư duy đột phá “phi truyền thống” (unconventional thinking) thường đến từ “fringe” (vòng ngoài) chứ không phải “mainstream” (vòng trong). Tư duy sáng tạo là then chốt để đổi mới quản trị, cũng như các yêu cầu đổi mới khác. Muốn đổi mới quản trị “vòng hai” (Management 2.0), phải “thay đổi hệ thống” chứ không chỉ “làm chủ hệ thống” (Change the system, not to own the system). 

Theo Gary Hamel, muốn quản trị điều hành hiệu quả trong thế kỷ 21, cần phân biệt giữa “lãnh đạo” (leadership) và “quyền lực hành chính” (bureaucratic power).

Gary Hamel và các nhà tư tưởng đổi mới quản trị khác cho rằng tình trạng quản trị hiện nay không theo kịp những biến đổi đang diễn ra trên quy mô toàn cầu, làm cho những công cụ quản trị được nghĩ ra trong thế kỷ trước trở nên lỗi thời và bị vô hiệu hóa, thậm chí phản tác dụng trong một nền kinh tế tri thức được toàn cầu hóa (hoặc “hậu toàn cầu hóa”). Cần sáng tạo ra cách quản trị mới, vì 2/3 những công cụ quản trị cũ nay đã lỗi thời, không theo kịp thời đại và không đáp ứng được những thực tế mới và những đòi hỏi mới về quản trị. 

Thay lời kết

Cánh đây đã lâu, Peter Drucker (một nhà quản trị lỗi lạc) nói, “Hệ thống giáo dục truyền thống luôn dạy học viên về một thế giới không còn tồn tại… Ba mươi năm nữa, các khuôn viên đại học (campuses) sẽ chỉ còn là phế tích. Chúng ta phải bắt đầu giảng dạy cho các lớp học ở bên ngoài trường đại học, qua vệ tinh và video hai chiều, với chi phí thấp nhất”. 

Thực ra, viễn cảnh theo tầm nhìn của Peter Drucker đang diễn ra như một thực tế khó phủ nhận. Tư duy đổi mới quản trị của Drucker nay đã được nhiều nhà cải cách giáo dục vận dụng còn táo bạo hơn. Trong một bài diễn văn đọc tại buổi lễ khai trường (năm 2009) bà Drew Gilpin Faust (Chủ tịch Harvard) đã nhấn mạnh (trích vắn tắt), “Chúng ta phải làm đảo lộn các định kiến, làm cho những gì quen thuộc trở thành xa lạ…làm cho giới trẻ lạc hướng và giúp họ tìm cách định hướng lại bản thân mình”. (to unsettle presumptions, to defamiliarize the familiar…to disorient young people and to help them find ways to reorient themselves).

Muốn đổi mới quản trị, phải thay đổi tư duy “truyền thống”. Để đào tạo một thế hệ quản trị mới, không nên nhồi nhét kiến thức theo “quy trình cũ”. Socratestừng nói, “Giáo dục không phải là đổ đầy bình, mà là châm một ngọn lửa”. Điều tiền nhân đã dạy cách đây hai thiên niên kỷ mà nay nhiều người vẫn chưa hiểu rõ. Einstein cũng từng nói, “Chỉ có hai điều vô hạn: vũ trụ và sự ngu xuẩn của con người, và tôi không dám chắc về điều thứ nhất”. 

---

>> Tiếp theo: Bài 2: Đổi mới thể chế và trọng dụng nhân tài

NQD. 22/4/2019